Kỹ thuật và kinh nghiệm nuôi cá la hán

Về cơ bản cá la hán có nguồn gốc từ họ Cichlid tìm thấy ở Nam Mỹ.
Nhiều loại cá la hán đẹp và phổ biến hiện nay là do kết quả lai tạo giữa nhiều loài Cichiasoma Trimaculatus, Cichlasoma Festae, Jingang Blood Parrot…
 
calahan5

II. Đặc điểm
Là loài cá rất hung hăng và mang tính hoang dã của địa phương, chúng không thể sống chung với nhau.
Là loài cá rất khỏe mạnh, có thể chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi trường.

Đặc điểm của cá la hán là cá có màu sắc sặc sở, đa dạng, đặc biệt trên đầu có một khối u lớn (đầu gù).
Trên thân của cá có hàng vẩy ngang có hoa văn như dòng chữ Hán.
Vây dài và đuôi cá to.

III. Tiêu chuẩn đánh giá cá đẹp

1.Hình dáng: phần thân dày và có hình oval, đôi khi có dạng gần như hình tròn. Bụng đầy đặn và không có nếp gấp.

2.Màu sắc: đa dạng, nhưng phải sáng, đa phần có màu đỏ nổi bật từ má đến bụng.

3. Vảy hạt trai (cườm): đa phần có màu xanh với sức hấp dẫn kỳ lạ, thường xuất hiện trên thân, đuôi, vây cá. Những con cá có nhiều hạt trai được gọi là cá la hán trân châu.

4.Đốm (hoa): đốm đen đậm, rõ biểu hiện sự khỏe mạnh của cá. Đốm hoa càng giống chữ phúc, lộc, thọ của tiếng Hoa cá càng có giá trị.

5.Đầu: Trán và đỉnh đầu phải nổi lên tròn trịa cân đối, đầu gù là loài cá được ưa chuộng nhất hiện nay, nhưng phải cân đối với hình dáng và kích cỡ của cá.

6.Mắt: Nằm ở vị trí hai bên đầu, mắt tròn, mi mắt hoạt động lanh lợi, tròng mắt trong luôn nhìn về phía trước thể hiện một con cá khỏe mạnh.

Vây và đuôi: Một con cá khỏe mạnh và đẹp phải có một chiếc đuôi mở rộng và kéo dài tròn trịa, vây lưng và vây bụng phải căng, chóp vây càng dài căng tốt, màu của vây và đuôi phải rực rỡ.

IV. Môi trường nuôi

pH: Một trong những tiêu chuẩn quan trọng cho cá, pH thích hợp cho cá từ 6-8.
Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho cá tốt nhất từ 26-30oC.
Để duy trì môi trường ổn định cần thay nước 1 tuần/lần, mỗi lần thay 1/3-1/2 lượng nước trong hồ, nên cho thêm san hô, sỏi vào bể để duy trì độ pH ổn định.

1. Thức ăn cho cá

Cá la hán ăn tạp nên ăn được nhiều loại thức ăn: trùn chỉ, lăng quăng hoặc tôm tép tươi…, hoặc thức ăn tươi sống như ròng ròng
Ngoài ra cá cũng ăn thức ăn dạng tổng hợp có bán tại các cửa hàng kinh doanh cho cá kiểng.

Phương pháp chế biến thức ăn tươi:
+ Xay nhuyễn tim bò hoặc tôm khô, rắc đều Carophyll pink 2g/kg, sau đó trộn hỗn hợp cho tới khi hỗn hợp trên có màu đỏ.
+ Đối với thức ăn viên: pha loãng Carophyll pink 2g/kg vào nước, tưới đều lên hạt thức ăn để thấm đều dung dịch trên sau đó đem phơi nơi bóng râm

Thuốc Carophyll pink có chứa astaxathin có tác dụng tạo màu đỏ rực cho cá
Không ảnh hưởng đến sức sinh sản của cá, loại thuốc này có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng, tăng khả năng chống stress.

* Kinh nghiệm cho cá lên đầu rù

Khi Cá la hán lên đầu, nên cho ăn cá Xiêm mái sắp đẻ. Bụng trứng trong cá xiêm mái là nguồn dinh dưỡng quý giá cho cái đầu cá la hán.
Một tuần cho ăn 3 lần, mỗi lần 1con.

Nguồn kinhnghiemnuoica

Định nghĩa về cá hai đuôi chất lượng (Doubletail Betta))

Tất cả chúng ta đều có khái niệm như thế nào là một con cá betta đẹp nhưng mục đích của bài viết này là để giới thiệu về các tiêu chuẩn chấm điểm của IBC (chương 5). Nên nhớ rằng với một con cá có bề ngoài lý tưởng, dù là đuôi đơn hay đuôi kép, ba vây lẻ sẽ làm thành một đường liền lạc mà không hề có khe hở.

Độ rộng của vây lưng ở cá đuôi kép thường lớn hơn so với cá đuôi đơn. Vây lưng cá đuôi kép, một cách lý tưởng, là hình ảnh đối xứng của vây hậu môn.

betta41

Cá betta đuôi kép thường có độ rộng thân (khoảng cách từ lưng đến bụng) lớn hơn so với cá đuôi đơn. Thân dày cũng được chấp nhận chừng nào mà nó còn hỗ trợ cho việc nâng đỡ bộ vây to lớn.

Số lượng các tia vây đuôi ở thùy trên và thùy dưới phải tương đương và phân bố đều qua đường trung tâm. Độ rộng phải tỷ lệ với độ dài. Thùy trên phải có kích thước tương đương với thùy dưới và đối xứng qua đường trung tâm. Hai thùy đuôi có thể xếp chồng nên nhau nhưng phải phân tách đến tận gốc đuôi. Hình dạng chung lý tưởng của cả hai thùy đuôi là hình bán nguyệt.

Cá đuôi kép có nhiều điểm khác biệt đối với cá đuôi đơn:

    Có hai thùy đuôi thay vì một, chúng hoàn toàn tách biệt đến tận gốc đuôi.
    Có gốc đuôi rộng hơn để nâng đỡ hai thùy đuôi.
    Có vây lưng lớn, tương đương kích thước của vây hậu môn.
    Có thân hình rộng và ngắn.
    Độ cong ở gốc đuôi thay đổi tuỳ theo mỗi cá thể đuôi kép. Quan sát từ trên xuống sẽ thấy điều này rõ hơn. Đuôi cong quá nhiều là lỗi ở cá đuôi kép, nếu không quá cong thì có thể bỏ qua.

Cá đuôi kép bị trừ điểm một khi không đạt chuẩn. Điểm số cuối cùng dựa trên mức độ lỗi nhiều hay ít.

Lỗi ở thân

    Thân quá ngắn và mập (lỗi rất nhẹ)
    Gốc đuôi lồi hay rất cong (lỗi nặng)

Lỗi ở vây lưng

    Vây lưng hơi hẹp hơn vây hậu môn (lỗi nhẹ)
    Vây lưng có vài tia ngắn ở phía trước, không giống với vây hậu môn (lỗi nhẹ)
    Vây lưng quá hẹp so với vây hậu môn (lỗi nặng)

Lỗi ở đuôi

    Thùy đuôi to nhưng không phân tách hoàn toàn – chỉ phân tách hơn ¾ (lỗi rất nhẹ)
    Thùy đuôi hơi không đều (lỗi nhẹ)
    Thùy đuôi phân tách từ ½ đến ¾ (lỗi nhẹ)
    Thùy đuôi không đều về kích thước hay hình dạng (lỗi nặng)
    Thùy đuôi đều nhưng nhỏ (lỗi nặng)
    Thùy đuôi phân tách khoảng ½ hay nhỏ hơn (lỗi nặng)
    Thùy đuôi không đều và nhỏ (lỗi nghiêm trọng)

Mặc dù sự xuất hiện của cá halfmoon hoàn toàn lấn át cá đuôi kép, nhưng theo tôi, những con cá đuôi kép cũn cỡn và cân đối với các vây xếp chồng lên nhau khi giương lên trông cũng rất tuyệt vời!

betta42

Nguồn betta.ketviet

Loại cây nên trồng khi nuôi cá dĩa trong hồ thủy sinh

Những cây thủy sinh (CTS) nên trồng trong hồ Cá dĩa (CD)
Điều cuối cùng khi thực hiện bể CD+CTS là lựa chọn CTS cần ít chăm sóc. Bạn càng ít chăm sóc hồ rong, CD càng vui vẻ. Việc dung dưỡng ít đồng nghĩa việc cây lớn chậm; tránh trồng những cây có cuống thông thường như Hygrophila hay Lugwigia.
Ngay từ đầu các nhà gây giống CD luôn quan tâm đến những loại cây nên trống trong bể CD. Điều quan tâm chính là những cây chịu nước mềm và nhiệt cao. Chúng tôi thấy thật sự chẳng có vấn đề gì trong điều kiện trên ( ngoại trừ ít trường hợp). Chúng tôi cảm thấy kích thước, hình dáng vào việc chăm sóc cây quan trọng hơn.

cadia3

Echinodorus
Lựa chọn đầu tiên cho bể CD là cây thuộc họ Echinodorus (hình trên). Chúng là cây bản địa ở lưu vực Amazon dù chúng không mọc nhiều ở vùng nước đen nơi CD ưa thích. Echinodorus có nhiều kích cỡ và hình dạng có thể sử dụng để tạo hiệu ứng tuyệt vời cho bể CD.

Để trang trí trung tâm, khó loài cây nào sánh nổi Amazon Sword (Echinodorus bleheri). Những chiếc lá to duyên dáng, màu lục nhạt và hình dáng suối nước đáng yêu khiến chúng trở thành CTS lớn tiêu biểu. Chúng phù hợp cho CD vì kích thước vừa hợp – những chiếc lá cóthe63 lớn 24’’ hay hơn và chiếm khá nhiều chỗ trong bể. CD có thể trốn dễ dàng sau lá rong. Kích thước và hình dáng của chúng phù hợp làm chỗ đẻ trứng tuy CD thích bề mặt cứng hơn.

Các CTS dạng sword khác hợp làm điểm nhấn ch bể là E. amazonicus, E. major, E. cordifolius và nhiều chủng loại khác. Một loại cây phổ biến và đầy quyến rũ là Ozelot sword phát triển bởi Tropica ở Đan Mạch.
Echinodorus bao gồm nhiều loại rong tuyệt vời tạo điểm nhấn hay để trồng ở mặt tiền. Cũng có nhiều loại “sword” lùn mọc chuỗi khác phù hợp cho tiền cảnh. Cây E. tennellus rất phổ biến có hình dáng như bụi cỏ và dễ trồng. Những loại lớn hơn như E. quadricostatus và E. latifolius tạo bước đệm hoàn hảo giữa tiền cảnh và trung cảnh.

Anubis
Họ Anubis thể hiện chủng loại rong đa dạng từ châu Phi. Mặc dầu không thuộc môi trường sống quen thuộc của CD, chúng vô cùng hữu ích khi sử dụng làm hậu cảnh và điểm nhấn. Chúng tương phản một cách tinh tế với Echinodorus với màu xanh đậm và nhiều dạng lá. Chúng cũng rất cứng cáp phù hợp làm nơi sinh sản.

Anubis phù hợp cho hầu hết loại bể vì khá dễ chịu. Chúng không đòi hỏi lượng sáng cao, nhưng phát triển sum xuê với hàm lượng sáng và CO2 cao. Chẳng hiếm khi thấy chúng mọc hoa thường xuyên với điều kiện chăm sóc tốt. Chúng mọc tốt hơn trong nước cứng nhưng cũng chẳng gặp vấn đề gì với bể mà chúng tôi đã thiết lập.

Loại dễ tìm nhất là Anubis barteri. Anubis bateri có khuynh hướng to lớn với chiều ngang lá có thể đến 6’’. Loại nana là loại nhỏ hơn để trang trí cho tiền, trung cảnh. Loại hiếm hơn như A. coffeeafolia có những chiếc lá như chạm khắc và rất lôi cuốn nếu trồng ở trung cảnh.
Có nhiều loại Anubis khác như A. afzelli và A. congensis phù hợp hơn cho hồ có chiều cao. Chúng có cuống và lá thẳng đứng như những cây loại sword. Chúng cũng là ứng viên sáng giá cho bể CD nhung mọc không tốt trong nước mềm, ấm.

Các loại cây cao và lá hẹp
Một số loài cây hữu ích khác trong bể cá có thể kể đến những loại lá cao bổ sung vào phong nền thẳng đứng của hồ. Hãy luôn chú ý đến sự tương phản cụng như bố cục.

Họ Crytocoryne, đặc biệt là . wendtii và C. blassi là những cây rất nổi với lá thẳng vững chãi và màu sẫm. Có nhiều dạng C. wendtii, nên bạn tha hồ chọn lấy hình dáng và kích thước phù hợp cho tiền cảnh. Chúng chẳng có vấn đề gì trong nước mềm, ấm.

Hai thành viên của họ Ammania, A. gracilus và A. senegalensis mọc tốt trong bể CD. Chúng không lớn quá nhanh và có màu đỏ quyến rũ. Chúng có thể được nhân giống bằng cách tỉa bớt và cắm đầu xuống cho phép nhưng chồi mới mọc ra từ vết cắt của phần cuống còn lại.

Vài loại họ Bacopa là cây nước lạnh và không thích hợp cho bể CD. Nhưng chúng tôi có thể trồng B. monnieri như cây tạo nhấn và cây hậu cảnh. Chúng lớn khá chậm và có màu xanh tươi tắn tuyệt đẹp.

Chúng tôi cũng thành công trong việc ươm trồng các loại cây sau rong bể CD:
– Java Fern, Microsorum pteropus
– Micranthemum family
– Hydrocotyle family

Vài loại cây ít hữu dụng ( không phù hợp lắm để trồng trong hồ CD)
Có nhiều loại cây không được khuyến khích trồng trong bể CD. Nhiều loại cây bắt nguồn từ Bắc Mĩ ưa nước lạnh và sinh trưởng không tốt. Chúng tôi thí nghiệm và thấy các loại cây sau không thể chịu được nước ấm:
– Samolus parviflorus
– Amoracia aquatica
– Bacopa caroliniana

Một số CTS phổ biến lớn quá nhanh hay mọc lá dày đặc và cần cắt tỉa nhiều. Những loại này rất tốt cho bể CTS nói chung ban đầu nhưng phải bị loại bỏ sau này trong hồ CD:
– Hygrophila family
– Ludwigia family
– Rotala family
– Large Vallisneria family (unless kept under control)

Nguồn aquabird

Độ cứng là gì và cách giảm độ cứng

Độ cứng là gì?
Độ cứng (hardness) là thuật ngữ được dùng với nước ngọt và mô tả nồng độ hòa tan của các khoáng chất nhất định trong nước. Độ cứng chủ yếu được tạo ra bởi can-xi (calcium) và ma-nhê (magnesium) nhưng những khoáng chất khác như ka-li (potassium) và na-tri (sodium) cũng góp phần vào độ cứng.

Nước chứa nhiều can-xi và ma-nhê được gọi là “cứng” và nước có ít các chất này được gọi là “mềm”. Ở một số vùng, nước máy tương đối mềm trong khi ở những vùng khác nó có thể rất cứng và kiềm.

Độ dẫn (conductivity), vốn có thể đo bằng một loại máy đo đặc biệt, để kiểm tra nồng độ của khoáng chất trong nước nói chung, chứ không phải là nồng độ của một vài khoáng chất nhất định.

cadia25

Tại sao độ cứng lại quan trọng?
Nguồn nước ở các vùng miền khác nhau cũng có độ cứng và độ pH khác nhau. Cá thích nghi với điều kiện hóa học trong môi trường tự nhiên của mình vì vậy chúng có yêu cầu về thành phần hóa học đặc trưng của nước trong môi trường nuôi dưỡng.

Độ cứng thường bị ảnh hưởng bởi cấu trúc địa lý xung quanh vùng. Ở những nơi mà đá giàu can-xi, chẳng hạn như hồ Tanganyika nước rất cứng; những nơi mà đá nghèo khoáng chất (không tác động đến tính chất hóa học của nước) nước có thể trung hòa hay mềm.

Cá từ những vùng mà nước xấp xỉ trung hòa thì tương đối thích nghi và chịu đựng hầu hết các điều kiện, miễn là không quá mức cho phép – nhưng cá từ vùng nước mềm, có tính a-xít (acidophile) hay từ vùng nước có tính kiềm (alkalophile) sẽ không thể chịu đựng được điều kiện trái ngược. Vì thế, không nên nuôi cá dĩa trong nước rất cứng hay cichlid hồ Tanganyika trong nước rất mềm.

Một số loài không sinh sản trong nước có độ cứng không thích hợp. Độ cứng cũng có thể ảnh hưởng nhất định đến tỷ lệ nở của trứng.

Độ pH và độ cứng có liên quan?
Không hoàn toàn chính xác nhưng đại loại là có. Độ pH đo nồng độ của hydroxyl (HO-) và hydro (H+) trong nước, trong khi độ cứng đo nồng độ của một số khoáng chất nhất định. Tuy nhiên, nước mềm thường cũng có tính a-xít (pH thấp) và nước cứng thường có tính kiềm (pH cao).

Những đặc điểm này được phản ánh trong nhu cầu của cá về đặc tính hóa học của nước. Nếu bạn điều chỉnh độ cứng hay pH để phù hợp với nhu cầu riêng của cá, nên nhớ rằng không phải cứ giảm độ cứng cũng đồng thời với giảm pH và có một vài kỹ thuật giảm pH mà không tác động đến độ cứng.

Cách thể hiện độ cứng nước?
Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn bởi vì có rất nhiều cách thể hiện độ cứng. Các tài liệu, bộ đo của cách nhà sản xuất và chuyên gia nuôi cá khác nhau đều sử dụng những cách khác nhau.

Đây là vùng xám – hầu hết cá chuyên gia mà chúng tôi tham khảo đều công nhận về một số nhầm lẫn.

Đo độ cứng

GH – độ cứng tổng (total), độ cứng chung (general) hay độ cứng vĩnh viễn (permanent) của nồng độ can-xi, ma-nhê và các i-on khác. Nó được đo bằng độ, mỗi độ tương đương với 17.9 mg/l. Biểu tượng của độ cứng thường là chữ “d” (chẳng hạn 6 dGH). Nước càng cứng thì độ GH càng cao.

KH – độ cứng carbonate, độ cứng tạm thời (temporary) hay bộ đệm. Chữ “K” trong KH bắt nguồn từ tiếng Đức “karbonate”. KH thể hiện nồng độ các i-on bicarbonate và carbonate có tác dụng như là một bộ đệm để chống pH biến thiên. Các i-on tạo ra KH có thể được loại bỏ bằng cách đun sôi.

KH là một thành phần của GH, vì vậy sau khi đun sôi thì GH cũng giảm đi đôi chút. Một độ KH tương đương với 17.9 mg/l CaCO3. KH cũng được đo bằng độ với biểu tượng là chữ “d” (chẳng hạn 2 dKH). Bởi vì KH là một phần của GH nên trị số của KH không thể lớn hơn GH.

DH – Deutsche harte hay độ cứng Đức (đôi khi được viết là dH) thì (theo nhất trí của các chuyên gia) tương đương với GH. (Nhưng cũng có một số chuyên gia phản bác). Đôi khi nó được sử dụng trong lãnh vực nuôi cá dĩa. Nó cũng được đo bằng độ. Mỗi độ DH tương đương với 17.9 mg/l CaCO3.

Clark – độ cứng Anh hiếm khi được sử dụng, kể cả ở Anh. Một độ Clark tương đương với 14.3 mg/l CaCO3.

Một số có thể phản bác rằng bởi vì Clark là dạng độ cứng mà chúng ta nên sử dụng ở Anh, điều đó có nghĩa khi chúng ta nói về GH, chúng ta thực sự ám chỉ đến 14.3 mg/l CaCO3 thay vì 17.9 mg/l CaCO3. Tuy nhiên, tôi chưa hề thấy có ai, cả trong lẫn ngoài giới chơi cá sử dụng độ cứng Clark. Trên thực tế, mọi người đều coi độ cứng GH ở Anh là 17 mg/l CaCO3 tương tự như độ DH.

Hardness – Độ cứng Mỹ. Một độ tương đương với 1 mg/l.

cadia26

Có quá nhiều loại độ cứng, tôi nên sử dụng loại nào?
Chúng ta thường sử dụng GH và KH, bởi vì chúng là những thông số phổ biến nhất. Sẽ dễ dàng hơn nếu mọi người đều sử dụng chung một hệ thống đo lường, chẳng hạn như mg/lít CaCO3, nhưng khác với GH và KH, có rất ít thông tin về nồng độ CaCO3 trong các tài liệu về nuôi cá.

Cách đo độ cứng?
Có hai loại bộ đo độ cứng (test kit) trên thị trường: bộ đo GH và bộ đo KH.

Bộ đo độ cứng dựa trên dung dịch, vì vậy bạn nhỏ từng giọt thuốc thử cho đến khi mẫu thử đổi màu. Giọt đầu tiên có thể khiến mẫu thử biến thành màu xanh và rồi nhỏ từng giọt thuốc thử, đếm cho đến khi mẫu thử bắt đầu đổi màu. Giọt cuối cùng khiến cho mẫu thử đổi sang màu khác (thường là đỏ hay cam). Số lượng giọt đơn giản là độ cứng.

Những bộ đo chất lượng thường có kèm theo chỉ dẫn về ngưỡng độ cứng cho các loài cá khác nhau và một biểu đồ chuyển đổi mà bạn dùng để chuyển đổi kết quả sang các hệ thống đo lường khác nhau, chẳng hạn từ DH sang Clark.

Độ cứng của các loài cá khác nhau?
Hầu hết các loài cá đều ổn trong nước trung hòa và nước hơi mềm. Các loài chuộng a-xít và chuộng kềm chịu đựng kém hơn. Có lẽ bạn không cần thay đổi độ cứng thật nhiều và chính xác nếu bạn chỉ nuôi những loài cá thông thường, nhưng nếu bạn muốn lai tạo một loài nào đó, bạn có thể phải làm nước mềm và có tính a-xít. Hãy kiếm tài liệu về vấn đề này.

Còn cá dĩa thì sao?
Cá dĩa không thể sinh sản thành công cũng như phát triển tốt trong nước cứng và kiềm. Nhìn chung, nước nuôi cá dĩa nên giữ ở mức pH từ 6.5 – 7.0. Nhưng để lai tạo, cần làm nước mềm và a-xít hơn nữa. Độ pH từ 6.0 đến 6.5, GH 2 và KH 1 là phù hợp – nhưng bạn nhất định phải thay thật nhiều nước để ngăn pH sụt mạnh hơn.

Đâu là cách tốt nhất để làm nước mềm?
Dẫu có một số loại nhựa resin trên thị trường để loại bỏ những khoáng chất nhất định ra khỏi nước, cách tốt nhất vẫn là sử dụng nước lọc, chẳng hạn nước từ bộ lọc thẩm thấu ngược (reverse osmosis). Nước mưa dễ bị ô nhiễm và có lẽ rất a-xít. Đảm bảo bạn lấy nước từ mái nhà thật sạch và lọc qua than hoạt tính.

cadia27

Bộ lọc thẩm thấu ngược là gì?
Bộ lọc thẩm thấu ngược được gắn với vòi nước máy để tạo ra nước khử khoáng (demineralised) với nồng độ ô nhiễm thấp.

Độ pH thường trung hòa và GH và KH thường bằng 0. Bởi vì thiếu bộ đệm nên bạn có thể dễ dàng giảm pH đến mức độ mong muốn bằng việc bổ sung than bùn hay a-xít, và bạn có thể điều chỉnh độ cứng bằng cách tái bổ sung chất khoáng.

Bạn không bao giờ được sử dụng nước lọc thẩm thấu ngược để nuôi cá bởi vì cá cần khoáng chất trong nước cho các mục đích hóa sinh. Tương tự, nếu không có KH để đệm a-xít phát sinh từ chất thải của cá, hay từ các quá trình quang hợp và hô hấp của cá và cây, pH có thể trồi sụt mạnh hay giảm đến một ngưỡng nguy hiểm.

Bạn có thể bổ sung khoáng chất cho nước lọc bằng các hợp chất như Tropic Mann Re-Mineral F hay API Electro-Right. Bộ lọc được gắn với nguồn nước máy và đa số model đều phải chạy liên tục. Nhưng bạn cũng có thể mua nước lọc từ các tiệm tạp hóa.

Than bùn có tác dụng gì?
Than bùn (peat) được cho là bổ sung những khoáng chất nhất định và tiết ra các hóa chất bao gồm a-xít tannic và humic vào nước, và làm nó có tính a-xít một khi KH đủ thấp. Than bùn có thể hiệu quả nhưng không có nhiều tác dụng nếu nước cứng và kiềm bởi vì KH có thể ngăn cản a-xít làm giảm pH. Được biết, dùng than bùn để lọc nước là hiệu quả nhất…

Tôi có thể sử dụng bộ làm mềm nước máy?
Không – hầu hết các bộ làm mềm nước máy (tapwater softener) hoạt động dựa trên nguyên tắc hoán đổi can-xi và ma-nhê bằng na-tri. Nước mềm vì can-xi và ma-nhê bị lấy đi nhưng lại có quá nhiều na-tri hơn mức an toàn đối với cá.

cadia28

Làm thế nào để điều chỉnh độ cứng đến trị số thích hợp?
Có một công thức toán học gọi là bảng Pearson nhưng một vài phép tính nhẩm kết hợp thử và sai cũng hiệu quả như vậy. Nước lọc là chất liệu tốt để sử dụng. Thêm từng lượng nhỏ khoáng chất vào một lít nước lọc cho đến khi bạn đạt độ cứng mong muốn. Sau đó nhân lên cho toàn bộ hồ cá – kết quả là tương đương.

Tôi không thể giảm pH và độ cứng. Đâu là nguyên nhân?
Có khả năng đồ trang trí tiết chất hóa học vào trong nước làm độ pH và độ cứng bị ảnh hưởng.

Nhiều loại sỏi, đá dùng trong hồ cá giàu can-xi và sẽ làm KH (và cả GH) cao hơn, và thường ảnh hưởng luôn đến pH. Điều này có nghĩa nếu bạn giảm pH và độ cứng bằng nước lọc, nước mưa, hóa chất hay nhựa resin, nó có lẽ sẽ không duy trì được lâu. Nếu bạn muốn giữ nước mềm và a-xít và ngăn cản pH và độ cứng tăng, hãy sử dụng nền trơ như cát hồ hay sỏi không chứa thành phần đá vôi.

Bổ sung a-xit để giảm pH hay ba-dờ để tăng pH có thể lợi bất cập hại. Cá không chịu đựng nổi pH biến thiên mạnh và có thể ngã bệnh hay chết nếu đặc tính hoá học nước thay đổi nhiều. Với đa số các loài, không nhất thiết phải điều chỉnh pH vì vậy cách tốt nhất là không nên can thiệp.

Matt Clarke

Nguồn diendancacanh

Kỹ thuật lai tạo kim long quá bối trong hồ xi măng

carong21

Kim long quá bối
Kim long quá bối là loài cá cảnh bản địa phổ biến và đắt tiền nhất ở Malaysia. Dòng kim long chất lượng nhất với vảy vàng phủ lưng là kim long quá bối Malaysia. Dòng này phân bố ở hồ Bukit Merah, bang Perak, Malaysia. Ngoài môi trường tự nhiên, mùa sinh sản diễn ra từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Vào thời gian này, dân làng sống quanh hồ thường đi vớt những con cá bột quý giá vào ban đêm.

Có hai dòng cá rồng phân bố ở Malaysia là kim long quá bối và thanh long. Thanh long rẻ tiền và phổ biến hơn so với kim long quá bối. Kim long quá bối thường xuất hiện ở sông Kerian và các nhánh của nó ở bang Perak. Ngoài môi trường tự nhiên, cá thích hợp với nguồn nước trong, hơi a-xít và không bị ô nhiễm, đặc biệt là những con sông cạn và chảy xiết, bờ có cây cối rậm rạp.

Vì dòng cá có giá trị, Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản – FFRC (trụ sở đặt tại Batu Berendam, bang Melaka) bắt một vài cá thể hoang dã để làm giống. Cá hoang được thu thập từ những người đánh bắt cá ở hồ Bukit Merah vào năm 1990. Năm 1996, FFRC đã may mắn lai tạo thành công kim long quá bối trong hồ xi măng ngay trong lần thử nghiệm đầu tiên.

Chăm sóc cá giống
Tám con kim long quá bối được nuôi trong hồ xi măng kích thước 5 x 5 m, mực nước sâu 0.5 m với hàng rào nhựa cao 0.75 m để ngăn cá khỏi nhảy ra ngoài. Một gian đẻ được dựng lên ở một góc của hồ xi măng và một vài mẩu lũa được thêm vào để tạo môi trường sống tự nhiên cho cá. Những vật trang trí khác như đá cuội và đá tảng đều tránh vì chúng có thể làm cá bị thương hay vô tình bị cá nuốt phải trong khi ăn. Hồ nuôi được che mát một phần, tránh ánh nắng trực tiếp và bố trí ở nơi yên tĩnh. Cá giống được nuôi ở đấy cho đến khi trưởng thành.

Kiểm soát chất lượng nước
Mặc dù cá rồng giỏi thích nghi, nước trong hồ nuôi nên có cùng độ pH với môi trường tự nhiên. Độ pH trong hồ nuôi nên từ 6.8 đến 7.5, nhiệt độ từ 27 đến 29 độ C. Mỗi lần thay từ 30 đến 35% tổng thể tích nước và châm đầy bằng nước máy đã khử clor. Độ sâu nên duy trì từ 0.5 đến 0.75 m.

Thức ăn
Cá giống được cho ăn nhiều loại thức ăn khác nhau. Chế độ dinh dưỡng cân bằng rất quan trọng trong việc giúp cá trưởng thành và sinh sản. Khẩu phần hàng ngày nên được chia nhỏ và giàu dưỡng chất. Hàng ngày, cá được cho ăn thức ăn tươi giàu chất đạm chẳng hạn như cá bảy màu, tép (Macrobrachium lanchestrii), cá chép mồi và thịt cá băm. Thịt đông lạnh có hàm lượng 32% đạm thô cũng được dùng như là nguồn thức ăn bổ sung. Thức ăn cung cấp mỗi ngày đạt khoảng 2% trọng lượng cơ thể cá.

Trưởng thành
Cá trưởng thành khi đạt khoảng 4 tuổi với kích thước từ 45 đến 60 cm. Cá sinh sản quanh năm với đỉnh điểm kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12. Ngoài môi trường tự nhiên, cá đực ấp trứng đã thụ tinh trong miệng cho đến khi cá con bắt đầu tự bơi được sau khoảng 2 tháng.

Cá cái có một buồng trứng chứa từ 20 đến 30 trứng có đường kính khoảng 1.9 cm. Các quan sát của chúng tôi rút ra từ việc giải phẫu xác cá rồng nuôi trong hồ đất khẳng định rằng cá rồng chỉ có một buồng trứng. Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện khoảng 50-60 trứng ở những cấp độ thành thục khác nhau. Cá đực trưởng thành cũng có một ống dẫn tinh giống như sợi chỉ.

Phân biệt giới tính
Cá non không hề có dấu hiệu phân biệt giới tính rõ ràng. Chúng chỉ trở nên rõ ràng khi cá trưởng thành và đạt từ 3 đến 4 năm tuổi. Việc xác định giới tính dựa trên hình dáng cơ thể và kích thước của họng. Cá đực thuôn và hẹp hơn, miệng rộng hơn và màu sắc tươi hơn cá cái. Miệng rộng và hàm dưới sệ ở cá đực là để phục vụ cho việc ấp trứng. Đầu cá đực tương đối to hơn. Cá đực cũng thường hung dữ hơn và luôn dẫn đầu trong việc tranh giành thức ăn.

Hành vi sinh sản
Cá rồng có hành vi bắt cặp rất độc đáo. Việc bắt cặp diễn ra từ vài tuần đến nhiều tháng trước khi giao phối. Quá trình bắt cặp thường diễn ra vào ban đêm khi mà cá có xu hướng bơi gần mặt nước. Cá đực đuổi theo cá cái khắp hồ và đôi khi cả hai quấn ngược đầu với nhau. Khoảng 1-2 tuần trước khi đẻ trứng, cặp cá bơi vai kề vai, chạm thân vào nhau. Sau đó cá cái đẻ ra một búi trứng màu vàng-đỏ.

Cá đực thụ tinh cho trứng, rồi ngậm trứng vào miệng nơi chúng được ấp ở đó cho đến khi cá con có thể bơi và sống tự lập được. Trứng có đường kính 8-10 mm chứa đầy noãn hoàng và nở sau khi thụ tinh một tuần. Sau khi nở, noãn bắt đầu sống trong miệng cá cha thêm 7-8 tuần nữa cho đến khi tiêu thụ hết noãn hoàng. Cá con rời miệng cá cha và sống độc lập khi đạt khoảng 45-50 mm.

carong20

Phát hiện cá đực đang ấp trứng
Sau khi sinh sản, cá đực đang ấp trứng được phát hiện qua nắp mang phồng to và dáng bơi của chúng. Chúng dường như bỏ ăn và trông lặng lẽ hơn bình thường. Cá đực đang ấp trứng cũng có thể được nhận biết dựa vào cái nọng bên dưới miệng.

Thu hoạch cá con
Thời gian ấp (từ khi trứng thụ tinh cho đến khi cá con bơi được) vào khoảng 8 tuần. Để rút ngắn thời gian này, trứng đã thụ tinh có thể được lấy bằng tay ra khỏi miệng cá đực sau khi đẻ 30 ngày. Cá đực đang ấp trứng được bắt nhẹ nhàng bằng lưới mịn và được bao bằng khăn lông ẩm để tránh làm cá trầy xước hay giãy dụa. Hàm dưới của cá được kéo xuống và nhẹ nhàng lắc để đổ noãn bán phát triển từ miệng cá ra. Noãn được bỏ vào bịch nhựa và đem ấp trong hồ kiếng. Số lượng trứng thụ tinh mỗi lứa vào khoảng từ 20 đến 35 noãn.

 

Marine Ich (Nấm trắng) – Bệnh mà ko phải là bệnh

Bài viết này lấy cảm hứng sau nhiều lần ngu dại mới vỡ lẽ ra nhiều điều, cũng có thể coi là kinh nghiệm và mang tính chất tham khảo. Bài viết bao gồm 50% từ tài liệu thu thập, 10% từ kinh nghiệm thu thập, 35% từ kinh nghiệm thực tế, và 5% là … chém gió. Trong bài viết có cả những câu từ mang tính chất kích động nên mong rằng trước khi đọc mọi người chuẩn bị sẵn tâm lí và có đọc tiếp hay ko thì tùy mọi người. Thanks !!!

Ich là tên gọi chung cho các bệnh do nhiễm khuẩn/kí sinh trùng, và Marine là để phân biệt giữa nước mặn với nước ngọt. Marine Ich là 1 trong 2 loại bệnh phổ biến nhất trong nước mặn. Và bệnh phổ biến và thường gặp nhất trong nhóm Ich là bệnh nấm trắng do kí sinh trùng có tên Cryptocaryon irritans gây ra.

cabien13

I. Các dấu hiệu của bệnh

– Cá có biển hiện cọ mình vào đá, cát (cá khó chịu khi có Cryptocaryon)
– Cá tìm đến tôm bác sĩ thường xuyên một cách khác thường (do cá bị Cryptocaryon tấn công nên tìm đến tôm bác sĩ để mong rằng có thể lấy được Cryptocaryon ra)
– Thở nhanh (Cryptocaryon tấn công vào mang)
– Tăng lớp nhờn bao quanh (Hệ miễn dịch của cá tiết ra để phản kháng lại Cryptocaryon)
– Mất màu, mất họa tiết (Cryptocaryon bám vào cá tấn công)
– Vây bị sờn (Cryptocaryon tấn công vào vây)
– Mắt đục (Cryptocaryon tấn công vào mắt)
– Xuất hiện các đốm trắng như hạt cát (đó chính là Cryptocaryon bắt đầu bám vào cá)

(Q) Tất cả triệu chứng này xuất hiện cùng lúc hay là như thế nào ?
(A) Mỗi triệu chứng xuất hiện ở mỗi giai đoạn khác nhau. Sự xuất hiện càng nhiều của các triệu chứng cùng 1 lúc biểu hiện mức độ nghiêm trọng của bệnh và số lượng Cryptocaryon sinh sôi trong bể

II. Quá trình phát triển bệnh – Vòng đời của Cryptocaryon

cabien14

Để có thể phòng tránh và chữa trị tốt nhất thì trước tiên chúng ta nên biết rõ đối thủ của chúng ta.Vòng đời của Cryptocaryon bao gồm 4 giai đoạn như hình sau:

(Dưới đây có 1 số từ TA chuyên ngành nên ko dịch được sang tiếng việt nên e đành phải viết cả ra, nhưng e sẽ cố gắng tách ra 1 cách riêng biệt để mọi người ko bị nhầm lẫn)

Giai đoạn 1 – kí sinh: Ở giai đoạn này, kí sinh trùng bám trong mang cá và được gọi là Trophont. Nói cách khác là cá đang bị kí sinh trùng tấn công ở mang. Trophont sẽ sống và được nuôi dưỡng từ cá từ 3-7 ngày. Sau đó Trophont sẽ rời cá và được gọi là Protomont (giai đoạn 2)

Giai đoạn 2 – tách rời: Ở giai đoạn này Trophont rời cá và được gọi là Protomont. Protomont sẽ di chuyển đến bề mặt đáy và bắt đầu bò tản ra xung quanh trong khoảng từ 2-8 tiếng nhưng có thể lên đến 18 tiếng. Một khi Protomont bám vào 1 bề mặt thích hợp nào đó, Protomont bắt đầu phá lớp màng bao bọc và được gọi là Tomont.

Giai đoạn 3 – sản sinh: Ở giai đoạn này, sau khi Protomont phá lớp màng và trở thành Tomont. Bên trong Tomont quá trình sản sinh diễn ra và nhân lên thành hàng trăm kí sinh trùng con và được gọi là Tomites. Tomites nằm trong vỏ bọc và chờ cơ hội. Giai đoạn này kéo dài từ 3 đến 28 ngày. Sau quá trình này, Tomites nở trở thành Theronts và bắt đầu bơi đi tìm nạn nhân tiếp theo.

Gian đoạn 4 – nhiễm bệnh: Đây là giai đọan khi Tomites nở ra thành Theronts. Và ở giai đoạn này Theronts phải tìm được nạn nhân tiếp theo trong vòng 24-48 giờ nếu ko sẽ chết. Theronts tập trung đánh vào da và mang cá rồi sau đó biến đổi thành Trophonts và lại bắt đầu quy trình từ giai đoạn 1.

Thời gian diễn ra của các giai đoạn tùy thuộc vào nhiệt độ và tần suất cá tiếp xúc với các dạng của kí sinh trùng. Đã có những khuyến cáo rằng nên tăng nhiệt độ để đẩy nhanh quá trình phát triển của Cryptocaryon vì quá trình điều trị chỉ có thể có tác dụng nhất trong giai đoạn 2 và 4. Cũng chính vì thế, nhiều người lầm tưởng rằng khi nấm hết xuất hiện trên cá có nghĩa cá đã hết bệnh và ko cần chữa trị nữa. Đó là 1 sai lầm lớn vì Cryptocaryon có những giai đoạn ko phụ thuộc vào cá và dường như làm cho chúng ta tưởng chúng đã ko còn tồn tại. Sai lầm này dẫn đến việc sau đó nấm xuất hiện trở lại và đã quá muộn vì người chơi đã ngừng chữa trị và lại phải bắt đầu từ đầu. Vì vậy, để diệt hoàn toàn, quá trình chữa trị và theo dõi phải kéo dài liên tục ít nhất 1 tháng đến 6 tuần. Mọi người cũng ko nên nản khi thấy nấm xuất hiện trở lại, nên giữ vững điều trị vì nấm xuất hiện lại nhưng sẽ ít hơn cũng là dấu hiệu của giảm được số lượng kí sinh trùng – trường hợp này xảy ra khi tình trạng bùng phát và nhiễm Cryptocaryon quá nặng, nếu xảy ra thì tiếp tục bắt đầu đếm lại quá trình điều trị.

Khuyến cáo thứ 2 là bật đèn (đèn đủ để cho cá) liên tục càng nhiều càng tốt – lên đến 18 tiếng 1 ngày để giữ cho cá hoạt động liên tục (ko trong trạng thái ngủ). Đã có những nghiên cứu cho rằng, Cryptocaryon trong giai đoạn rời cá, Cryptocaryon sẽ ko rời 1 cách tự nhiên hoặc mọi lúc mọi nơi, Cryptocaryon chọn thời điểm khi màn đêm xuống, khi cá chui vào chỗ nấp thường ngày để ngủ. Lúc này Cryptocaryon mới bắt đầu rời cá. Đây là chiến thuật của Cryptocaryon để tăng % cơ hội có thể tái tạo vòng đời của chúng và tăng số lượng nạn nhân tiếp theo. Đây cũng chính là lí do vì sao dấu hiệu cá xuất hiện nấm hầu hết ko phát giác trong ngày mà khi 1 ngày mới bắt đầu, các vết đốm trắng mới xuất hiện

(Q) Làm thế nào để biết Cryptocaryon đang trong giai đoạn nào ?
(A) Cho dù có dùng kính hiển vi thì cũng ko thể biết chính xác được vì vậy thay vì tìm cách trả lời câu hỏi này, người chơi nên tập trung, theo dõi khắt khe cá hàng ngày để tìm xem dấu hiệu xuất hiện lại của bệnh trong thời gian chữa trị.

III. Nguyên nhân gây bệnh

Rất khó để có thể tìm ra chính xác nguyên nhân gây bệnh ở mỗi trường hợp cũng như nói ra hết các nguyên nhân đó. Hiện nay, có 2 trường phái với cách nghĩ hoàn toàn trái ngược nhau về sự tồn tại của kí sinh trùng Cryptocaryon trong bể nước mặn. Trường phái thứ nhất cho rằng trong môi trường nước mặn Cryptocaryon luôn luôn tồn tại nhưng ở 1 số lượng rất nhỏ, chỉ đủ để duy trì vòng đời của Cryptocaryon. Khi đó cá sẽ bị nấm theo sơ đồ sau:

Cryptocaryon + Cá bị stress => Cá (bị stress) bị nấm

Trường phái thứ 2 là Cryptocaryon sẽ chết hoàn toàn 1 khi nó ko có con mồi nào để tấn công – có nghĩa sẽ có bể được gọi là ko có sự tồn tại của Cryptocaryon (free-of-Ich). Khi đó cá bị nấm theo sơ đồ sau:

Bể có Cryptocaryon + Cá bị stress => Cá (bị stress) bị nấm

Bể free-of-Ich + Cryptocaryon (được đưa vào bể) + Cá bị stress => Cá (bị stress) bị nấm

Thật khó để quyết định theo trường phái nào, mỗi trường phái sẽ sinh ra nguyên nhân và có cách phòng ngừa khác nhau. Vì vậy, cách tốt nhất để 100% ko bị nấm tấn công là phòng ngừa tất cả nguyên nhân của cả 2 trường phái. Đó là:

1 – Cá bị stress (Nguyên nhân số 1 vì xuất hiện trong cả 2 )
2 – Bể có Cryptocaryon
3 – Cryptocaryon được đưa vào bể

IV. Cách chữa bệnh (duy nhất và hiệu quả 100%)

Có lẽ đến đây ai cũng nghĩ là sẽ dùng thuốc gì, cách nào, như thế nào, vvv, nhưng rất tiếc là sẽ phải khiến mọi người thất vọng cách chữa bệnh duy nhất và hiệu quả 100% này ko phải là những thứ mọi người nghĩ bên trên. Vậy nó là gì ? Và tại sao lại nói cách chữa mà lại ko phải là cách chữa ? Để trả lời câu hỏi này xin mọi người xem lại tiêu đề của bài viết, “bệnh mà ko phải là bệnh” , có nghĩa rằng đây ko phải là bệnh của cá mà chính xác phải nói là lỗi của người chơi chúng ta – chúng ta đã phá hủy quy luật sống tự nhiên, đưa cá vào môi trường ko tự nhiên. Nói đến đây chắc chắn 99% người đọc sẽ phẫn nộ và hỏi tại sao lại dám nói như thế và tại sao có những người vẫn nuôi được hoặc chữa cá khỏi bệnh. Nói như trên ko có nghĩa là chúng ta ko được nuôi, mà là để thức tỉnh ý thức về lối chơi trong mỗi chúng ta.

Thử hỏi đặt loài người vào hoàn cảnh của con cá, liệu chúng ta có khỏe mạnh ko bệnh tật 100% ko khi bị thay đổi môi trường sống, và sẽ càng shock khi môi trường mới bị ô nhiễm, xung quanh toàn người xa lạ, hung dữ. Người cũng như cá thôi, sẽ chỉ sống khỏe mạnh và lâu dài với chúng ta khi chúng ta khiến chúng cảm thấy an toàn và thoải mái. Nói đến đây chắc mọi người hiểu ẩn ý đằng sau câu nói này – đó là đừng bao giờ áp đặt cá theo thứ chúng ta muốn, đừng thích là mua, thích là thả, rồi thích con nào là thả con đấy, rồi thích cá ăn thế nào, cá sống thế nào là nó phải như thế. Nếu muốn thành công, hãy nuôi cá 1 cách có ý thức – ý thức rằng trước khi quyết định nuôi 1 loài nào đó, hãy tìm hiểu kĩ về nó và tìm hiểu xem khả năng có thể nuôi được trong bể của mình hay ko.

Nói đến đây chắc hẳn ko ít người cảm thấy khó chịu, nhưng có đọc tiếp hay ko thì đó là quyết định của mọi người, e cũng đã từng ko ít lần và chính xác hiện tại đang là 1 người thả cá vô ý thức như thế. Nhưng ko có gì là quá muộn, bài viết này được viết ra với mong muốn rằng người mới chơi sẽ ko dẫm lên vết xe đổ của những người đi trước.

Vậy cách chữa trị duy nhất hiệu quả 100% là gì ???… đó là phòng bệnh và dưỡng cá

V. Phòng bệnh

Nhắc lại các nguyên nhân để tránh xảy ra bùng phát nấm, gồm có:

– Cá bị stress (Nguyên nhân số 1 vì xuất hiện trong cả 2 )
– Bể có Cryptocaryon
– Cryptocaryon được đưa vào bể

1 – Cách phòng “bể có Cryptocaryon”

Xin nhắc lại nguyên nhân này xuất hiện trong trường phái tin rằng tồn tại môi trường free-of-Ich – môi trường ko hề có mầm bệnh. Vì vậy với trường phái này, Cryptocaryon là kí sinh trùng chỉ có thể tấn công và phát triển khi có con mồi là cá và sẽ chết hoàn toàn khi ko hề có cá để cho Cryptocaryon sinh sôi và tái tạo vòng đời. Vậy để biến bể thành free-of-Ich, hãy để bể ko có cá ít nhất 4-6 tuần. Cho dù trong bể có sẵn hay ko có Cryptocaryon thì đối với cách này sẽ tạo ra môi trường free-of-Ich. Đây cũng là lí do vì sao với bể cá mới, cho dù vòng tuần hoàn có hoàn tất nhanh đến đâu, 4-6 tuần vẫn là quãng thời gian “ngắm đá” bắt buộc đối với bể mới trước khi con cá đầu tiên được thả.

(Q): Có thể được làm gì ngoài việc “ngắm đá” 4-6 tuần ?
(A): Trừ cá ra thì muốn làm gì cũng được, thả tôm, thả ốc, thả tất cả các loài trừ cá – và san hô. Nhưng tất nhiên, san hô và những loài trên yêu cầu chất lượng nước nhất định, vì vậy kiểm tra tất cả trước khi thả bất cứ loài gì vào. Đây cũng là lí do vì sao với bể có san hô, san hô luôn được thả trước và sớm hơn là cá.

(Q): Nếu vòng tuần hoàn hoàn tất nhanh mà chẳng biết làm gì nữa thì nên làm gì ?
(A): Hãy bắt đầu làm bể dưỡng cá – Quarantine Tank. Nó là gì và tại sao phải có nó thì sẽ được trả lời cụ thể ở phần tiếp theo

2 – Cách phòng “Cryptocaryon được đưa vào bể”

Cryptocaryon được đưa vào bể theo nhiều cách: cá mới có Cryptocaryon, san hô, vật dụng, đá, …. từ bể lạ có Cryptocaryon.

(Q): Làm thế nào để biết cá mới có Cryptocaryon hay ko mà tránh ?
(A): Sự thật phũ phàng là ko ai có thể biết và quy luật vàng là ko bao giờ tin vào những lời đảm bảo như kiểu “cá ăn tốt, cá khỏe, ko hề có bệnh”. Chắc chắn ko ai muốn dỡ cả bể đang có rất nhiều cá khỏe mạnh xuống chỉ vì 1 con cá mới được hứa là khỏe mạnh và ko có bệnh. Vì vậy phòng vẫn là tốt nhất. Cá mới về trước tiên cần được tắm nước ngọt (RO) để giết chết các kí sinh trùng bám trên cá vì các kí sinh trùng sẽ chết ở môi trường SG thấp. Việc làm này ko chỉ đơn giản là lấy RO ra là cho cá vào tắm, quy trình này tuy đơn giản nhưng đòi hỏi phải đúng quy cách. Sau khi cá được tắm nước ngọt, cá cần đưa vào bể dưỡng và nuôi trong đó ít nhất 3 tuần (lí dó vì sao sẽ được giải thích cụ thể ở phần sau).

(Q):Thế còn đối với các thứ khác từ bể lạ làm thế nào để biết có Cryptocaryon hay ko?
(A): Đối với san hô có lẽ ai cũng biết người ta cũng có cả bể dưỡng cho san hô – Quarantine tank. San hô trước khi đưa vào bể mới cũng cần phải dưỡng. Đối với đá và các vật dụng khác thì do Cryptocaryon chỉ sống bám trên cá nên % chứa Cryptocaryon là ít, nhưng tốt nhất là tránh. Và có 1 điều tuyệt đối ko được làm là cho nước từ bể lạ vào bể (chỉ được cho phép trong trường hợp bể mới set up, lấy nước và các vật dụng, đá từ bể khác để thúc đẩy vòng tuần hoàn)

3 – Cách phòng “cá bị stress”

Cá bị stress được cho là nguyên nhân chủ yếu và dễ xảy ra cho tất cả các loại bệnh, ko chỉ riêng với Cryptocaryon. Để đạt được mục đích này thì ko hề đơn giản, đòi hỏi thời gian tìm hiểu cũng như sự kiên nhẫn. Stress có thể đến từ rất nhiều nguyên nhân, 1 bài viết ko thể phân tích kĩ từng khía cạnh 1, nhưng e sẽ cố gắng tổng hợp 1 cách đơn giản. Những nguyên nhân đó bao gồm:

– Thay đổi chất lượng nước
– Thay đổi môi trường sống
– Shock do vận chuyển và shock nước
– Cá bị thả vào bể ko phù hợp về size của bể
– Cá thả chung với loài ko phù hợp

+) Thay đổi chất lượng nước:

Nói đơn giản là thay đổi thất thường về nhiệt độ, SG, Ph, NO3. Nhiệt độ bao nhiêu đối với cá ko quan trọng bằng việc giữ cho nó ổn định. Nhiệt độ chênh lệch trong 24h max là 1 độ. SG thay đổi max là 0.002 trong 24h. Thay đổi Ph ko nên quá 0.2 trong vòng 24h.

(Q): Mùa hè có cần sưởi ko ? Mùa đông có cần máy lạnh ko ?
(A): Nghe thì có vẻ là 1 câu hỏi ngớ ngẩn nhưng sự thật là việc mùa hè dùng sưởi, mùa đông vẫn dùng máy lạnh rất có ích. Nhất là với thời tiết quái đản như ở VN. Ví dụ thực tế trong việc dùng sưởi mùa hè là khi thời tiết luôn ở mức 32 độ, nhưng có thể có 1 ngày mưa bất thường hoặc là nhiệt độ hạ về đêm, hay như bể cá đặt trong phòng có điều hòa nhưng điều hòa chỉ được bật khi có người, vì vậy dùng 1 cái sưởi để ở mức 31 độ để phòng nhiệt độ giảm xuống dưới 31 rất có ích. Ví dụ về việc dùng máy lạnh vào mùa đông là khi bể cá đã có sưởi kéo nhiệt độ lên 26, nhưng có ai dám chắc chắn cái máy sưởi sẽ ko bị hỏng và đưa nhiệt độ lên cao mất kiểm soát, hoặc là với những nhà có dùng lò sưởi. Mùa đông chạy sưởi ở 26, máy lạnh ở 27 cũng rất có ích. Thay đổi lớn về nhiệt độ ko chỉ đơn giản là cá thấy nóng hay lạnh mà còn thay đổi lượng O2 – CO2 trong bể => thay đổi Ph. Với lại quy trình hoạt động của sưởi và máy lạnh là chỉ tốn điện khi máy chạy, vì thế cắm 24/24 nhưng nhiệt độ ko cần nâng hay hạ thì máy cũng coi như là ko hoạt động.

(Q): Có nên hoảng hốt tăng Ph lên cao khi Ph xuống 7.9 ?
(A): Tuy 7.9 là thấp nhưng nên nhớ rằng ở biển có chỗ Ph xuống thấp 7.7 và lên đến 8.4, với lại nếu ở 7.9 mà cá có chết thì cũng đã chết rồi. Trước tiên phải tìm ra nguyên nhân – thay đổi nhiệt độ, O2 trong bể, rồi từ từ tăng Ph lên 0.1 – max là 0.2 – trong 24h.

(Q): Có nên thay nước 50-70% để giảm NO3 từ 100ppm xuống 50-30ppm ?
(A): Tuy thay nước là cách hiệu quả nhất để giảm NO3, nhưng ko phải muốn giảm nhiều thì thay như thế là xong. NO3 cao là ko tốt nhưng ko đến mức giết cá ngay lập tức như NH3, có nhiều bể nuôi mao tiên NO3 có thể lên đến 200ppm. Hạ NO3 là tốt cho cá nhưng thay vì hạ 50% trong 1 ngày thì nên thay 10% hoặc 15% trong 5 hoặc 3 ngày liên tiếp. Ngay cả với bể có san hô, khi phát hiện NO3 lên đến 100ppm thì trước tiên phải tìm ra nguyên nhân rồi sau đó mới hạ từ từ. Thay 50-70% nước chỉ dành cho hồ sau khi kết thúc vòng tuần hoàn, bể bị vấn đề và tất cả sinh vật sống đã được lấy ra, bể dưỡng – chữa bệnh cho cá.

+) Thay đổi môi trường sống

Thay đổi ở đây ko chỉ là thay đổi từ biển về đến bể, từ bể ở cửa hàng về đến bể nhà, mà còn là thay đổi về tập tục sống, ăn uống, vvv. Đây là lí do vì sao bên cạnh bể chính và bể lọc, vẫn còn 1 bể rất quan trọng nhưng vẫn còn rất nhiều người coi thường sự tồn tại của nó, đó là bể dưỡng (quarantine tank). Nếu người chơi có thể bỏ ra hàng chục triệu để đầu tư 1 bể nước mặn thì tại sao lại ko thể bỏ thêm vài triệu cho 1 bể dưỡng. Và tại sao người chơi sẵn sàng mất hàng tháng trời mất ăn mất ngủ vì cá bị bệnh, san hô bị bệnh, mà ko thể bỏ ra chỉ 1 tháng để đảm bảo rằng cá , san hô mới khi thả vào bể là khỏe mạnh và ko hề có mầm bệnh. Đó chưa kể là mất nhiều tiền để mua lại từ đầu khi cả bể ra đi chỉ vì 1 con cá hoặc san hô có bệnh được đưa vào bể mà ko được dưỡng. Hay như trong trường hợp sau khi ra mua cá ở ngoài cá được hứa hẹn là khỏe mạnh, ko bệnh, ăn uống tốt – ngay cả khi ăn trước mặt người mua, hoặc đã dưỡng những vài tháng, rồi khi về nó ko ăn, hoặc ra đi sau 1 thời gian ko lí do, hoặc kinh khủng hơn là cả bể ra đi là từ trước đến nay ko hề bị.

Tất cả cá mới được đưa về cần phải được dưỡng, thời gian dưỡng tùy thuộc vào mức đáng giá vào tình trạng sức khỏe của cá, ít nhất là 1 tuần, nhưng tốt nhất là để 1 tháng vì 1 tháng là thời gian để chắc chắc rằng cá ko hề có bất kì mầm bệnh nào. Một khi cá phát bệnh thì bể dưỡng sẽ trở thành bể chữa bệnh mà ko mất công bắt cá ra khỏi bể và ko bị lây lan ra bể chính. Ngay cả khi cá bị bệnh, khi được nuôi ở bể dưỡng, cá vẫn có thể tự phục hồi và trở nên miễn nhiễm với mầm bệnh đó 1 khi cá khỏe trở lại. Dưỡng cá còn có cái lợi là giúp cho cá quen dần với chế độ ăn uống ở bể mới, tập cho cá ăn những thứ mà cá sẽ phải ăn khi được thả vào bể. Do bể dưỡng chỉ có 1 mình cá mới (hoặc 1 số lượng nhỏ cá mới được sắp xếp hợp lí) nên sẽ cá mới sẽ ko bị cạnh tranh về mọi mặt, giúp cá mới giảm stress sau khi di chuyển, và phục hồi lại. Lí do vì sao quan niệm bể dưỡng càng ngày càng trở nên bắt buộc bởi vì sự thật là KO CÓ CÁ NÀO LÀ CÁ KHỎE, HAY LÀ KO CÓ BỆNH – MÀ CHỈ CÓ CÁ BỊ STRESS HAY KO BỊ STRESS MÀ THÔI.

+) Shock do vận chuyển và shock nước

Chọn mua cá khỏe đã là đương nhiên, nhưng cách thả cá mới cũng cần phải học. Không phải cứ mua cá về là vớt ra hay đổ luôn vào bể rồi bật đèn mà ngắm. Khi thả cá, nên tắt hết đèn trong bể, cố gắng cho phòng càng tối càng tốt, mở túi ra rồi cho treo lơ lưng trên bể để cho nhiệt độ nước trong túi bằng nhiệt độ nước trong bể và cũng để cá bình tĩnh trở lại sau khi di chuyển. Một khi nhiệt độ cân bằng, cứ 5-10 phút lại thêm nước từ bể vào túi với mức 5% lượng nước trong túi. Sau khoảng 5-10 lần như vậy thì bắt đầu chuẩn bị để thả cá. Trước khi đưa cá vào bể, nếu bể đã có cá khác mà có tính dữ hơn cá mới thả, thì thay đổi vị trí sắp xếp của đá, càng nhiều càng tốt, rồi sau đó thả cá vào bể. Khi thả cá tốt nhất ko dùng lưới bắt cá để thả, và cũng hạn chế nước mới vào bể. Sau khi thả cá nên để bể trong tình trạng càng tối càng tốt ít nhất 8 tiếng, tốt nhất sau 24 tiếng mới được bật đèn.

(Q): Tại sao lại ko dùng sưởi hoặc máy lạnh để làm cân bằng nhiệt độ cho nhanh mà nên thả nổi trên bể ? Tại sao nên mở miệng túi ?
(A): Thay đổi nhiệt độ quá nhanh rất nguy hiểm cho cá, vì thế thả nổi trên bể vừa để cho nhiệt độ cân bằng từ từ và chính xác với nhiệt độ bể, vừa gọi là cho cá mới nói lời chào “hello” với cá cũ và nhà mới của nó. Mở túi để tăng lượng O2 cho cá

(Q): Tại sao lại phải cho từng chút nước ở bể vào trong túi trong thời gian lâu như thế ?
(A): Nước mới và nước cũ có rất nhiều yếu tố khác nhau ko chỉ có nhiệt độ như SG, Ph, vvv. Vì thế cần phải cân bằng các chỉ số và phải cân bằng 1 cách từ từ. Để thả 1 con cá mới, san hô mới mất đến 2 tiếng ko phải là chuyện ngớ ngẩn.

(Q): Tại sao nên thay đổi cách sắp xếp đá ?
(A): Với 1 bể ko sắp xếp thứ tự thả cá hợp lí , cá hiền thả sau cá dữ, cá bé thả sau cá lớn, làm như vậy để làm xáo trộn môi trường sống của cá cũ, khiến cá cũ cũng như cá mới, giúp cá mới có cơ hội để bắt quen với bể mới.

(Q): Tại sao nên thả cá và để cá mới trong tình trạng tối ?
(A): Làm như thế để đưa cá cũ về trạng thái bị động, nấp về chỗ hay ngủ – ko lầm tưởng thứ mà đang được thả vào bể là thức ăn cho chúng. Để cá trong tình trạng tối cũng là để cá mới bắt quen với môi trường bể mới trước khi phải tiếp xúc với cá cũ khi đèn lên.

+) Cá thả ko phù hợp với size của bể

Sai lầm thứ nhất là ko phải cứ có thiết bị lọc mạnh gấp 10 lần thể tích của bể là có thể thả số lượng gấp 10 lần cho phép. Sai lầm thứ 2 là khi bể chính chỉ có 200L, bể lọc những 1000L => tổng là 1200L => có thể thả cá với mức giới hạn 1200L – với san hô thì có thể nhưng với cá thì là sai lầm rất lớn. Cứ giả sử rằng với 1 bộ lọc khủng công suất mạnh gấp 10 lần, có thể đưa tất cả các chỉ số như NH3, NO2, NO3, PO4 , vvv xuống 0 chỉ trong vòng 1 giây, nhưng với 1 bể 200L thì chỉ có thể thả nhiều nhất là 1 con angel (Nói đến đây những ai nuôi được 2 con angel trong 1 bể 200L đừng vội mắng e nhé, cá sống trong bể có 2 chế độ, 1 là survive – sống để tồn tại , 2 là thrive – sống một cách khỏe mạnh, phát triển, vậy có mấy người có được cá ở chế độ thứ 2)

Vấn đề ở đây ko phải chất lượng nước mà là bể có đủ rộng hay ko, cũng như cho 10 người sống và sinh hoạt trong 1 phòng có diện tích 20m2 – ăn uống đầy đủ, ko lo ko nghĩ, điều hòa cả ngày – thì được gọi là sống để tồn tại hay là sống 1 cách hạnh phúc ??? Cá cũng vậy thôi, thế nên vì sao mỗi 1 loài đều có 1 quy tắc nhất định về độ lớn tối thiểu của bể để có thể nuôi 1 loài. Câu chuyện có thật là ở hồi e học bên UK, bể của e max 220L, chỉ có đúng 2 con cá nhỏ, khi ra hàng nhìn thấy con hoàng đế lúc nhỏ đẹp quá, size chỉ tầm 5cm, e đòi mua nhưng người bán hàng nhất quyết ko bán với lí do chỉ bán cho bể ít nhất 400L. Lúc đó e nghĩ thằng đó nó bị hâm, bán được tiền mà ko thích, nhưng cho đến khi về VN e được nuôi 1 con hoàng đế thì e mới biết là e hâm chứ ko phải nó hâm. Có tiền chưa hẳn đã có tất cả, mọi người có thể nghĩ VN khác UK – tùy mọi người thôi. Cũng như lí do vì sao quy tắc là 2 con angel ko nên nuôi chung 1 bể, nhưng vẫn có người nuôi 2 con trong 1 bể mà béo tốt, hiền lành, ko thèm oánh con khác chứ nói gì đến oánh nhau. Lí do là một khi 2 con angel có đủ diện tích sống của nó, khiến nó cảm thấy an toàn và được cung cấp đầy đủ thì sẽ trở nên lành tính. Hay 1 trường hợp khác là trong bể 1 bể 200L thì yellow tang và purple tang có thể đánh nhau đến chết nhưng với bể 400L thì lại có thể bơi cùng nhau thậm chí ngủ chung 1 khu vực.

+) Cá thả chung với loài ko phù hợp

cabien15

Cá được chia ra làm 3 cấp về mức độ dữ, Aggressive (dữ, có xu hường làm bá chủ cả 1 vùng, sẵn sàng đánh đuổi cho kẻ thù đến chết), Semi-Aggressive (hơi dữ, có thể trở nên dữ khi bị kích động, bị tấn công, bị tranh lãnh thổ và thức ăn), Peaceful (hiền, ko bao giờ làm hại loài khác dưới mọi hoàn cảnh => rất dễ bị stress và bị bắt nạt ở 1 số loài chậm chạp). Dựa vào những đặc tính này và theo quan sát vùng sống trong tự nhiên cũng như kinh nghiệm, bảng sắp xếp sự hợp hay ko hợp giữa các loài có thể tham khảo như sau:

Y = Compatible (phù hợp để nuôi chung), C = Caution required (cần phải theo dõi), N = Not Compatible (ko phù hợp để nuôi chung). Đây chỉ là lí thuyết và nếu có là thực tế thì cũng có thể lỗi thời hoặc còn tùy vào từng hoàn cảnh. Nhưng cũng có thể dùng để tham khảo trước khi đi đến quyết định mua cá. Người chơi được khuyến cáo nên làm 1 danh sách đầy đủ tất cả những loài cá mà dự định sẽ thả => để xem bể có chứa nổi ko, độ hợp hay ko hợp, và cũng là để lên kế hoạch về thứ tự thả của từng con. Thứ tự thả tùy thuộc vào đặc tính của cá mới thả và cá đã thả, và xét trên phương diện danh sách đã lập ra để thả 1 cách có hợp lí. Chắc chắn ai cũng ko muốn thả xong rồi chúng bị đánh nhau rồi lăn ra chết, hoặc cá yếu bị bắt nạt bởi cá mạnh. Về cách thả thì có lẽ nên để dịp khác để có thể nói trọn vẹn hơn.

VI. Sự thật đằng sau hệ thống miễn dịch của cá

Cá cũng như con người, đều có hệ thống miễn dịch và hệ thống ko phải là vĩnh viễn và kiên cố mà có thể bị phá hủy trong nhiều trường hợp. Hệ thống miễn dịch của cá gồm 2 loại: innate (bẩm sinh) và adaptive (thích ứng). Hệ thống miễn dịch bẩm sinh là hệ thống ko cần biết đối thủ, mầm bệnh là loại nào mà chỉ biết diệt nó. Hệ thống miễn dịch thích ứng là hệ thống tạo ra tuyến phòng vệ cho cá (như lớp nhờn bao quanh cá, lớp nhờn càng dầy, càng thấy rõ màu trắng đục là dấu hiệu hệ thống đang hoạt động để phòng thủ lại kẻ thù). Khi cá bị tấn công, nếu mầm bệnh nằm trong danh sách của hệ thống bẩm sinh và hệ thồng đủ mạnh, cá sẽ được gọi mà miễn nhiễm và hệ thống thích ứng ko cần hoạt động. Nếu mầm bệnh lạ, hệ thống thích ứng sẽ nhảy vào và cá rơi vào tình trạng thích ứng và đấu tranh. Hệ thống thích ứng được coi là hệ thống hiệu quả và mạnh nhất của cá, nó có thể giúp cá thích ứng và vượt quá tất cả bệnh tật 1 cách tự nhiên. Một khi cá có thể vượt qua mầm bệnh với hệ thống thích ứng, tự động cá trở nên miễn nhiễm với mầm bệnh đó trong 6 tháng – hay nói cách khác hệ thống bẩm sinh được update thêm về bệnh mới và có hiệu lực trong 6 tháng.

Ngày nay, với kĩ thuật phát triển, đã có loại vacxin được tiêm cho cá khi cá mới được đánh bắt về trại cá để tăng cường hệ thống miễn dịch thích ứng của cá với Marine Ich, cá sau đó được dưỡng và tự động trở nên miễn nhiễm với Ich như cách bên trên. Đó cũng là lí do vì sao cá nhập có giá thành đắt hơn, vì chất lượng cá tốt và cá đã được thuần để ăn những thức ăn có sẵn.

Tuy nhiên, ko phải cứ cá nhập, cá đã miễn dịch là có thể mãi mãi ko bao giờ bị bệnh ngay cả trong 6 tháng. Một khi cá bị stress, hệ thống miễn dịch bẩm sinh sẽ bị giảm tác dụng hoặc có thể bị vô hiệu hóa, hệ thống miễn dịch thích ứng sẽ bị suy yếu – độ mạnh hay nhẹ tùy thuộc vào mức độ stress và thời gian cá bị sống trong stress. Vì vậy, trong một số trường hợp cá vẫn có thể tự hồi phục với điều kiện nguyên nhân gây stress được khắc phục.

Vì vậy, cho dù là cá nhập hay cá đánh bắt, cách tốt nhất để phòng bệnh là triệt hạ tất cả nguyên nhân cá bị stress.

VII. Bể dưỡng và dưỡng cá

Bể dưỡng tốt nhất nên gọn nhẹ, size vừa đủ cho cá được dưỡng, ko bé quá với cá to, và ko to quá với cá bé (để giảm thiểu lượng nước phải thay). Bể nên để ở những nơi ít người qua lại để tránh cá bị stress. Thiết bị yêu cầu là sưởi, hệ thống lọc ngoài với bio-ball (bio-wheel), sủi oxy, các test nước Ph, SG, NH3, NO3, và ống nhựa PVC để cho cá làm nơi trú ẩn.

Để set up 1 bể dưỡng nhanh và ko cần phải chạy lâu dài, ta nên chạy lọc ngoài với hệ thống bể chính để các vi sinh sinh sôi trong hệ thống lọc ngoài, 1 khi cần dưỡng cá, ta chỉ việc lấy nước từ bể chính bơm vào bể dưỡng rồi cho lọc ngoài vào thế là ta vừa có 1 bể đã ổn định, vừa tiện thay nước bể chính – tiết kiệm được nước thay từ bể chính. Nhiệt độ nên để ở mức cao >30 để thúc đẩy quá trình phát bệnh nếu có, vì nhiệt độ cao nên sục oxy là điều rất cần thiết. Do hệ thống lọc ngoài ko thể mạnh bằng bể chính nên cách duy nhất để duy trì chất lượng nước là kiểm tra thường xuyên, thay nước khi cần thiết, cá mà ăn thừa phải hút ra ngay.

Cá cần được ở trong bể dưỡng ít nhất 4 tuần với dấu hiệu khỏe mạnh, rồi sau đó có thể đưa vào bể chính. Trường hợp duy nhất để cá ít hơn 4 tuần là cá được lấy từ bể đã được dưỡng và hoàn toàn ko có mầm bệnh, nhưng cũng nên để 2 tuần gọi là phòng ngừa, v ừa thuần cá, vừa vỗ béo cho cá trước khi vào môi trường mới. Một khi bể dưỡng trở nên ko cần thiết nữa, ta có thể rút nước, cất tất cả thiết bị, riêng với lọc ngoài nếu trong tương lai gần nếu có thể thêm cá thì chỉ cần chạy cùng bể chính để giữ vi sinh.

(Q): Có thể dùng đá sống cho hệ thống lọc của bể dưỡng được ko ?
(A): Tốt nhất là ko, vì trong trường hợp cá ko bị bệnh thì sao, nhưng chẳng may bị bệnh, bể dưỡng sẽ phải chuyển thành bể chữa, lúc đấy kể cả có chữa bằng thuốc và giảm SG thì đá và cát sẽ bị nhiễm thuốc hoặc chết hoàn toàn.

VIII. Các cách chữa khi cá bị nấm

Cách chữa duy nhất và hiệu quả nhất là phòng ngừa, nhưng trong trường hợp quá muộn, Ich có thể được chữa theo những cách chữa cháy sau:

1. Copper

Cá ko chết khi copper được giữ ở mức an toàn, nhưng tất cả các thứ khác trừ cá (san hô, hệ thống vi sinh, tôm, ốc, đá, cát) sẽ chết hết ở mức chữa bệnh cho cá, vì vậy cách này chỉ được áp dụng khi cá được đưa ra bể chữa riêng. Đây là 1 trong 2 cách chữa cháy được cho là hiệu quả nhất. Cá cần được điều trị và theo dõi trong 4 tuần và sau đó có thể được thả lại bể khi ko có dấu hiệu tái bệnh trong 4 tuần đó

(Q): Copper giết hệ thống lọc vi sinh vậy làm thế nào để giữ nước sạch ?
(A): Cách duy nhất là thay nước hàng ngày (có thể từ 10% đến 50% tùy vào kết quả kiểm tra xem thế nào là tốt) – biết là tốn nước nhưng ko còn cách nào khác.

(Q): Nên chữa từng con hay chữa cả đàn ?
(A): Một khi đã chữa bằng copper, để hiệu quả 100% ko cho Ich quay lại và nhanh nhất, tất cả cá đều phải bắt hết ra chữa trị hết, và trong lúc đó để bể chạy ko có cá trong ít nhất 4 tuần thì mới đảm bảo bể đó chết hết Ich

(Q): Tại sao ko chữa những con bị thôi , mà lại còn phải để bể ko hoàn toàn ?
(A): Ich khó có thể phát hiện bằng mắt thường, 1 con có dấu hiệu là cả bể được gọi là bị nhiễm hết, đã chữa thì phải dứt điểm để tránh tái phát sau này. Với lại vòng đời của Ich còn có giai đoạn ẩn nấp trong bể, vì thế trong 4 tuần ko có cá, Ich ko có chỗ để bám thì sẽ tự động chết.

p/s: Đây cũng là lí giải vì sao nhiều bể ko dùng RO, dùng nước máy lại ko bao giờ bị nấm, bởi vì trong nước máy sẽ có 1 lượng copper, nhưng thực tế lượng copper ở mỗi nơi khác nhau, có thể an toàn hoặc có thể giết chết hết, nhưng có 1 điều đơn giản là cá tuy ko có bệnh nhưng đá sống có thể chết tạm thời(mất coralline algae, biến màu thành trắng, nâu) mất thời gian dài để hồi lại, hệ thống vi sinh bị ngừng trệ, san hô và các sinh vật khác nhẹ thì bị ảnh hưởng, nặng thì chết.

2 – Hyposalinity

Hyposalinity là giảm SG xuống 1.010-1.011, và có thể xuống 1.009 nếu bệnh quá nặng và khi xuống 1.010 cá ko có dấu hiện giảm. Chỉ nên dùng ở bể chữa ngoài. Cách này tuy sẽ có thể có thiệt hại về cá nhưng lại tiết kiệm được lượng thay nước hơn copper vì ở SG 1.010 hệ thống lọc vi sinh có bị giảm nhưng vẫn hoạt động. Khi giảm SG thì có thể giảm nhanh (nhưng ko giảm 1 phát luôn), nhưng khi tăng chỉ được tăng max 0.003 1 ngày. Cá cần được ở trong quá trình chữa ít nhất 4 tuần tính từ lúc bắt đầu SG đạt 1.010, và cũng là từ lúc xuất hiện dấu hiệu cuối cùng của Ich, và sau 4 tuần đó mới bắt đầu tăng SG để đưa cá trở lại bể chính.

(Q): Có thể dùng cách này trong bể chính ko ?
(A): Chỉ có thể khi bể chính ko có đá sống, cát, san hô, cá sinh vật khác trừ cá.

(Q): Có thể chữa lâu quá 4 tuần được ko ?
(A): SG thấp sẽ hủy hoại phổi của cá sau 6 tuần, vì vậy, thời gian cá ở SG dưới 1.020 ko được quá 6 tuần. Thế nên khuyến cáo ko dùng hydrometer , mà nên dùng refractometer vì để chắc chắn ở đúng SG như vậy thời gian chữa trị sẽ nhanh và hiệu quả hơn.

3 – Hệ thống miễn dịch

Trong các trường hợp ko thể lấy cá ra khỏi bể, hoặc ko thể làm bể dưỡng, thì cách duy nhất còn lại và cũng chỉ là trong hi vọng với 50-50 cơ hội. Đó là để cho cá tự động chiến đấu với Ich. Đối với những loài yếu hoặc cá yếu thì cơ hội sống là rất mỏng manh, nhưng nếu có thể vượt bể hoàn toàn thì những con cá sống sót tự động trở thành miễn dịch với Ich trong 6 tháng, và bể cũng được coi là free-of-Ich. Tuy nhiên để có thể làm được điều này, sự hi sinh là rất lớn và đòi hỏi rất nhiều sự quan sát, cẩn thận, và chăm sóc chất lượng nước. Luôn luôn giữ nước ở chất lượng tốt nhất – cách hiệu quả nhất là thay nước thường xuyên, giữ nước ổn định tránh cho cá stress, cho ăn ít đi nhưng ăn chất lượng (flake, pellet có thành phần tăng cường hệ miễn dịch) và hiệu quả (ăn ít nhưng mà có ăn) để tăng chất lượng nước. Cứ giữ vững như vậy trong ít nhất 4 tuần kể từ lần cuối có xuất hiện dấu hiệu của Ich thì coi như là thành công. Cái này rất khó vì chu kì của Ich luôn quay vòng, chỉ cần có cá bị nhiễm mặc dù cá ko chết nhưng Ich lại quay vòng cho đến khi nào ko thể quay vòng được nữa thì thôi. Sau mỗi lần quay vòng, với sự hỗ trợ của chất lượng nước tốt, cá sẽ dần dần trở nên miễn dịch và 1 khi Ich ko thể tấn công được con cá nào nữa trong bể thì sẽ tự động chết.

(Q): Vậy có nghĩa để tránh đau đầu thì cứ mặc kệ cá trong bể ko cần lôi ra chữa trị ?
(A): Cái này tùy vào người chơi, nếu thực sự có thể giữ được chất lượng nước tốt và ổn định thì % sẽ cao hơn, thiệt hại ít hơn, thời gian nhanh hơn. Nhưng dù gì đi nữa, sẽ phải chờ rất lâu mới có thể thành công, vì cứ tính sau mỗi 1 lần chỉ cần có dấu hiệu nhỏ thôi thì lại bắt đầu phải đếm lại 4 tuần vì có nghĩa Ich vẫn quay vòng. Có nhiều trường hợp cứ 2 tuần nấm rồi lại hết, hết rồi lại nấm, mặc dù giữ nước sạch nhưng vấn đề còn phụ thuộc vào cá có bị stress hay ko nữa.

IX. Kết Luận

Marine Ich có thể xuất hiện mọi lúc mọi nơi, có thể giết hàng loạt, hoặc cứ đến rồi lại đi liên tục mặc dù ko gây ra thiệt hại nào. Nó ko phải về vấn đề bệnh tật, mà như là lời cảnh báo về vấn đề chất lượng nước và chất lượng sống của cá mà người chơi cần phải xem xét lại. Chính vì thế mà căn bệnh này được coi như là vô tận và ko có cách nào chữa trị gọi là triệt để => bệnh mà ko phải là bệnh. Ngay cả trong tất cả các cách chữa trị cho cá ở bể chữa bệnh, khi cá đã khỏe lại, nhưng nếu môi trường sống cũ ko tốt thì cá vẫn sẽ dễ dàng bị lại.

Chính vì thế, thay vì tìm cách chữa trị, thì hãy học cách phòng ngừa 1 cách có khoa học – cũng như cách chọn lọc cá, thả cá, dưỡng cá hợp lí. E xin nhắc lại “ko có con cá nào khỏe mạnh, ko có bệnh, mà chỉ có cá happy hay stress mà thôi”

Họ cá rồng

Họ Cá rồng, là một họ cá xương nước ngọt với danh pháp khoa học Osteoglossidae, đôi khi còn gọi là “cá lưỡi xương” (cốt thiệt ngư). Trong họ cá này, đầu của chúng nhiều xương và thân thuôn dài được che phủ bằng các vảy lớn và nặng, với kiểu khảm ống. Các vây lưng và vây hậu môn có các tia vây mềm và dài, trong khi vây ức và vây bụng lại nhỏ. Tên gọi ‘cá lưỡi xương’ có nguồn gốc từ xương dạng răng trên phần sàn của miệng (‘lưỡi’), được trang bị cùng các răng và ngoạm vào các răng ở phần trên trần của miệng. Cá có thể thu được ôxy từ không khí bằng cách hít nó vào trong bong bóng, được bao bọc bằng các mao mạch tương tự như phổi. Cá hải tượng (Arapaima gigas) là “cá thở không khí cưỡng bách”.

ca rong

 

Phân loại và địa động vật học

Họ Cá rồng là họ cá nguyên thủy (cơ sở) có từ hạ Đệ Tam và được đặt trong một bộ cá vây tia có danh pháp Osteoglossiformes. Hiện tại còn 10 loài còn sinh tồn đã được miêu tả: 3 từ Nam Mỹ, 1 từ châu Phi, 4 từ châu Á và 2 từ Australia.

Họ Osteoglossidae là họ cá nước ngọt duy nhất được tìm thấy ở cả hai bên của đường Wallace.[2] Điều này có thể giải thích bằng thực tế là cá rồng châu Á (S. formosus) đã phân nhánh ra khỏi hai loài ở Australia từ chi Scleropages là S. jardinii và S. leichardti vào khoảng 140 triệu năm trước (Ma), chứng tỏ một điều rằng các dạng cá rồng châu Á đã được lan truyền tới châu Á theo đường qua tiểu lục địa Ấn Độ.

Hành vi

Họ cá rồng là các động vật ăn thịt, thông thường chuyên ăn nổi bề mặt. Chúng nhảy rất tốt; có thông báo cho rằng các loài trong chi Osteoglossum có thể nhảy cao tới 2 m trên mặt nước để bắt côn trùng và chim đậu trên các cành cây ở Nam Mỹ, vì thế chúng còn được gọi là “khỉ nước”. Người ta cũng đồn đại rằng cá rồng có thể bắt những con mồi lớn như những con dơi đang bay hay các con chim nhỏ. Tất cả các loài đều to lớn, và cá hải tượng (Arapaima) có thể cạnh tranh chức vô địch thế giới cho các loài cá nước ngọt. Các loài cá rồng thông thường dài khoảng 0,9-1,2 m, nhưng điều này chỉ tin tưởng được trong phạm vi con người nuôi thả.

Một vài loài trong chi Osteoglossum thể hiện sự chăm sóc tới con cái. Chúng làm tổ và bảo vệ các con non sau khi sinh ra. Một số loài là ấp trứng bằng miệng, cá bố mẹ đôi khi giữ hàng trăm trứng trong miệng của chúng. Các con non có thể thực hiện vài chuyến bơi thăm dò ra bên ngoài miệng của cha mẹ chúng trước khi rời xa vĩnh viễn.

Trong bể cảnh

Các loài cá rồng có xu hướng hợp thành bầy khoảng 5-8 con. Nên giữ chúng trong bể với thể tích tối thiểu là 750 lít cho con đầu tiên với lọc nước tốt, và thêm khoảng 100 lít bổ sung nữa cho mỗi con kế tiếp. Một vài loài cá có thể thích hợp để nuôi cùng cá rồng là cá còm (Chitala ornata), cá chim trắng (vài chi của phân họ Serrasalminae), cá tai tượng Phi châu (Astronotus ocellatus), cá tỳ bà (cá lau kính) (Hypostomus plecostomus), jaguar cichlid (Parachromis managuensis), cá kim cương (Aequidens rivulatus), Cá sấu hỏa tiễn (Lepisosteidae) và bất kỳ loài cá bán-hung dữ nào khác, đủ lớn để cá rồng không thể ăn được.

Các loài cá rồng từ Australia (S. jardinii và S. leichardti) nên nuôi giữ trong bể riêng.

Văn hóa dân gian

Đối với người Việt Nam và Trung Hoa cùng các nền văn hóa tương tự, rồng là biểu tượng của may mắn và thịnh vượng. Trong mắt của người Việt và Trung Hoa, cá rồng là biểu hiện và sự uy nghi của rồng, đặc biệt là các vảy lớn và râu. Cá rồng cũng được sử dụng trong phong thủy nhằm mang lại may mắn và giàu có.

Các loài

Họ này chứa hai phân họ là Heterotidinae (2 loài) và Osteoglossinae (8 loài) đã biết.

    Phân họ Heterotidinae
        Chi Arapaima
            Arapaima gigas (Cuvier, 1829): Cá hải tượng. Nguồn gốc Nam Mỹ
        Chi Heterotis
            Heterotis niloticus (Cuvier, 1829): Cá rồng châu Phi, khổng tượng châu Phi, rồng đen châu Phi. Nguồn gốc châu Phi
    Phân họ Osteoglossinae
        Chi Osteoglossum (Cuvier, 1829)
            Osteoglossum bicirrhosum (Cuvier, 1829): Cá ngân long, cá rồng đen. Nguồn gốc Nam Mỹ
            Osteoglossum ferreirai Kanazawa, 1966: Cá hắc long, cá rồng đen. Nguồn gốc Nam Mỹ.
        Chi Scleropages
            Scleropages aureus (Pouyad, Sudarto & Teugels, 2003): Kim long hồng vĩ. Nguồn gốc châu Á
            Scleropages formosus (Schlegel & Müller, 1844): Cá rồng châu Á, cá mơn, cá thanh long. Nguồn gốc châu Á
            Scleropages jardinii (Saville-Kent, 1892): Cá trân châu long, kim long Úc, châu long Úc rằn. Nguồn gốc Australia
            Scleropages legendrei (Pouyad, Sudarto & Teugels, 2003): Cá huyết long, cá rồng đỏ. Nguồn gốc châu Á.
            Scleropages leichardti Günther, 1864: Cá hồng điểm long, châu long Úc đốm sao. Nguồn gốc Australia
            Scleropages macrocephalus (Pouyad, Sudarto & Teugels, 2003): Cá thanh long Borneo, kim long Indonesia. Nguồn gốc châu Á.

Nghiên cứu di truyền học gần đây chỉ ra rằng nhánh dẫn tới cá hải tượng và cá rồng châu Phi đã phân nhánh vào khoảng 220 Ma, trong Hậu Trias; nhánh dẫn tới ngân long và hắc long của Nam Mỹ đã rẽ nhánh khoảng 170 Ma, trong Trung Trias. Nhánh dẫn tới các loài cá rồng Australia phân nhánh ra khỏi nhánh dẫn tới các loài cá rồng châu Á vào khoảng 140 Ma, trong Tiền Phấn Trắng.

Hóa thạch

Có ít nhất là 5 loài cá cổ, chỉ được biết đến từ các hóa thạch, cũng được phân loại vào họ Osteoglossidae; chúng có niên đại vào khoảng cuối kỷ Phấn Trắng. Các hóa thạch khác có niên đại xa hơn tới cuối kỷ Jura hay đầu kỷ Phấn Trắng nói chung được coi là thuộc về siêu bộ cá rồng (Osteoglossomorpha). Các hóa thạch của cá dạng cá rồng được tìm thấy trên mọi châu lục, ngoại trừ châu Nam Cực.

Chi Brychaetus

Brychaetus muelleri (Agassiz, 1845) được biết có từ cuối kỷ Phấn Trắng tới đầu thế Paleocen. Các hóa thạch của nó được tìm thấy tại châu Âu, Bắc Mỹ, và Bắc Phi. Loài cá nước ngọt này có các răng rất dài và cùn. Platops và Pomphractus là các danh pháp đồng nghĩa.

Chi Joffrichthys

Chi tại Bắc Mỹ này có 2 loài là J. symmetropterus và J. triangulpterus. Loài thứ hai có từ thế Paleocen tại tằng hệ Sentinel Butte ở Bắc Dakota, Hoa Kỳ

Chi Phareodus

Chi này có ít nhất 2 loài là P. testis (Leidy, 1873) và P. encaustus. Các đại diện được biết đến có từ giữa thế Eocen tới thế Oligocen ở Australia và Bắc Mỹ, bao gồm tằng hệ sông Green tại Wyoming, Hoa Kỳ.

P. testis là loài cá nước ngọt với bề ngoài hình ô van, đầu nhỏ, mõm hơi nhọn. Vây lưng và vây hậu môn nằm ở phía sau, với vây hậu môn lớn hơn. Vây đuôi hơi chẻ. Vây bụng nhỏ nhưng dài còn vây ngực thì hẹp. Từ đồng nghĩa Dapedoglossus.

Nguồn: Wikipedia