7 thông tin bất ngờ về loài mèo lạ Ragdolls

Ragdolls là tên một giống mèo với đôi mắt màu xanh dương tuyệt đẹp và bộ bông hai màu tương phản đặc trưng và được mô tả bằng 3 từ: to, đẹp và thân thiện. Với bộ lông mềm mại và hơi dài tương tự như mèo Ba Tư hoặc Angora, cơ thể khá lớn và tính cách hiền lành, dễ thương như một chú chó nhỏ, chính vì vậy, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Ragdolls là một giống mèo yêu thích của những người nuôi mèo. Sau đây hãy cùng yeupet.vn đi tìm hiểu những sự thật thú vị khác về loài mèo này nhé.

Nguồn gốc của tên gọi

Ragdolls được cho là thừa hưởng đặc tính ngoan ngoãn và dễ bảo của nòi mèo Ba Tư và mèo Xiêm. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng chúng là kết quả của đột biến gen. Trên thực tế, Ragdolls được một người Hoa Kỳ gây giống và phát triển, cái tên Ragdolls xuất phát từ thói quen rũ người và thả lỏng cơ thể khi được bế lên của các cá thể mèo đầu tiên.

Là một giống mèo hoàn toàn mới

Ann Baker, một người lai tạo sống ở California trong những năm 1960, được cho là đã tạo ra Ragdoll. Baker đã tìm thấy một con mèo cái lông trắng dài đang chạy trong khu phố mình và nhân giống nó với một con mèo lông dài khác. Những con mèo đầu tiên được lai tạo thành công chính là tổ tiên của Ragdoll. Bằng cách chọn những chú mèo có tính cách thân thiện và bộ lông dài sang trọng mà Baker cuối cùng cũng tạo ra chú mèo lớn, mềm mại mà chúng ta biết và yêu thích ngày nay. Một trong những con mèo có dòng máu Ragdoll ban đầu có đặc tính giống mèo Xiêm hoặc Baker cho giao phối con mèo đầu tiên với Birman, mèo Miến Điện hoặc mèo Ba Tư. Tuy nhiên không ai biết rõ giống mèo mà Baker đã sử dụng để tạo ra Ragdoll, cũng như nguồn gốc của bộ lông màu cổ điển của giống mèo này vẫn còn là bí ẩn.

Ragdolls có đôi mắt xanh tuyệt đẹp

Ben cạnh bộ lông sang trọng và thân hình to lớn, Ragdoll còn được biết đến với đôi mắt xanh sáng và bộ lông hai màu. Bộ gen quy định màu lông đặc trưng của Ragdoll cũng quy định màu mắt xanh của chúng. Ở đây, màu bóng xanh đậm của mắt thường được ưa thích hơn trong các cuộc trình diễn “miêu mẫu”. Bộ lông của Ragdoll trông rất lộng lẫy, nó bao hàm chủ yếu là lớp lông ngoài dài trong khi lớp lông lót phía trong không được dày cho lắm. Điều này khiến cho bộ lông của chúng “ít khi bị rụng và mềm mại như thảm” – theo nhận xét của Hội những người sành chơi mèo cảnh. Không chỉ vậy,, màu sắc lông của Ragdoll là sự kết hợp của sáu màu: con dấu, xanh, socola, màu hoa cà, màu đỏ và màu kem. Và có tiêu biểu bốn mẫu: bi – color, van, mited và colorpoint. Trong khi Colorpoint Ragdoll có các dấu nhọn cổ điển và không có sắc trắng ở bất cứ đâu trên bộ lông của chúng trừ phần bàn chân, cằm và sọc trên bụng. Thì Bi – color lại chủ yếu mang bộ lông màu trắng sáng, tất cả bốn bàn chân, phần bụng dưới, ngực và dấu V lộn ngược trên khuôn mặt; chỉ trừ đuôi, tai và rìa má có màu sắc tối hơn.

Là một trong những giống mèo có kích thước lớn nhất

Theo Hiệp hội những người yêu thích mèo (CFA), Ragdoll là một trong những giống mèo có kích thước lớn với con đực thường nặng từ 6,8 đến 9,1 kg và mèo cái là từ 4,5 đến 6,8 kg. Điều đó làm chúng lớn hơn một chút so với các đối thủ nặng ký khác như Main Coon (có thể nặng tới 8,2 kg) và mèo rừng Na Uy (có thể nặng tới 7,3 kg).

Rogdoll khá yên tĩnh

Ragdoll là những chú mèo khá đáng yêu và yên tĩnh. Nhờ đặc điểm này mà Realtor.com đã xếp chúng là một trong những giống mèo tốt nhất cho cuộc sống ở căn hộ. Tuy nhiên, đặc điểm này cũng có một nhược điểm: Ragdoll có thể không kêu meo meo nếu nó bị đau hay có vấn đề gì đó, vì vậy hãy đảm bảo chăm sóc chúng cẩn thận.

Là một “Janus” sống trên thế giới

Một chú mèo được sinh ra với hai khuôn mặt được gọi là mèo Janus, một cái tên lấy cảm hứng từ vị thần La Mã Janus, người thường được miêu tả là có hai khuôn mặt. Con mèo hai mặt nổi tiếng nhất thế giới, Frank and Louie (còn được gọi là Frankenlouie) là một con Ragdoll. Chúng có hai mắt hoạt động bình thường, một mắt là trung tâm điểm mù, hai mũi và hai miệng. Biến dị của Frankerlouie là do tình trạng bẩm sinh rất hiếm gặp gọi là bệnh bạch hầu. Chúng không thể sống lâu được nhưng một người phụ nữ tên Marty Stevens đã cứu sống Frankerlouie trước khi chúng chết. Và thật kinh ngạc khi Frankerlouie đã sống được đến 15 năm trước khi chết vào năm 2014. Nhờ tuổi thọ dài mà nó được liệt kê trong Sách Guinness là con mèo Janus sống lâu nhất.

Đôi khi Ragdoll lại giống chó nhiều hơn


Mèo Ragdoll có xu hướng quan tâm đến con người nhiều hơn một số giống mèo khác. Nó có thể chạy đến đón bạn ở cửa, theo bạn từ phòng này sang phòng khác, vỗ về bạn, ngủ với bạn và thường chọn ở nơi bạn đang ở. Nếu bạn bị dị ứng với chó hãy xem xét một con Ragdoll. “Đôi khi chúng giống chó hơn mèo”, “ những con mèo của tôi chào đón tôi ở cửa, theo tôi từ phòng này sang phòng khác, ôm ấp cạnh tôi trên chiếc ghế dài, đợi bên ngoài trong khi tôi tắm”… (một người nuôi Ragdoll chia sẻ). Ragdoll thích thú nhồi bông và đồ chơi nhỏ mà chúng sẽ mang từ phòng này sang phòng khác, một trong số chúng thậm chí còn chơi trò trốn tìm. Nếu bạn đang tìm kiếm một con vật độc lập hơn thì Ragdoll không dành cho bạn, chúng đòi hỏi và rất cần nhiều sự chú ý của con người.

Bất ngờ với 4 loài động vật có khứu giác mạnh mẽ nhất

Trong vương quốc của các loài động vật, những loài động vật có khứu giác “khủng” nhất lần lượt là…?

Chắc bạn sẽ phải bất ngờ lắm đấy, cùng tìm hiểu những thông tin tuyệt vời này cùng yeupet.vn nhé!

Canids: Các loài động vật thuộc họ Chó.

So với một cá thể loài người trung bình chỉ có khoảng 5 triệu thụ thể khứu giác, các cá thể thuộc loài thú họ Chó – bao gồm chó sói, chó rừng, cáo và (tất nhiên) cả chó nhà của chúng ta – có một cái mũi đáng kinh ngạc hơn nhiều với khả năng chứa từ 149 triệu đến 300 triệu thụ thể khứu giác!

Do đó, các loài thú họ Chó nhạy cảm với mùi hơn nhiều so với loài người, vì chúng có thể phát hiện được những mùi mà chúng ta không thể phát hiện ra. Trong quá trình “ngửi” này, mõm của một con chó, tương tự như bất kỳ động vật nào khác (bao gồm cả loài người), với cấu tạo được lót bằng một số lượng lớn các thụ thể khứu giác nằm trên thành niêm mạc hình nón, với vai trò tiếp nhận và truyền tín hiệu về các phân tử khác nhau trong không khí đến não bộ, tại đây não bộ sẽ thực hiện phân tích các phân tử đó (và nhận diện chính xác bất kể nguồn gốc của các phân tử này đến từ thức ăn, bạn đời tương thích, bạn bè, kẻ thù, hay bất cứ thứ gì) – tuy nhiên, riêng các bạn chó của chúng ta, diện tích bề mặt của thành niêm mạc hình nón này có thể đạt tới hơn 10 mét vuông, trong khi ở người, diện tích tương ứng không vượt quá 5 cm vuông.

Trên thực tế, các loài thú họ Chó sử dụng một nửa bộ não của chúng dành riêng cho việc tiếp nhận, xử lí các tín hiệu khứu giác, trong khi loài người chỉ sử dụng khoảng một phần mười bộ não mà thôi, khiến cho khả năng xử lý các tín hiệu khứu giác của loài người thực sự kém. Tóm lại, khi bàn về việc đánh hơi, tất cả các loài thú họ Chó đạt chiến thắng tuyệt đối so với loài người, từ những chú chó cảnh sát được huấn luyện để sử dụng các giác quan của chúng để phát hiện các chất như chất nổ, ma túy và những thứ tương tự,cho đến cả những chú chó cứu hộ có thể dễ dàng tìm thấy người mất tích.

Bears: Gấu

Cảm giác về mùi của loài gấu rất mạnh mẽ – thậm chí có thể nói là vượt xa bất kỳ con chó nào – mạnh đến nỗi chúng có thể phát hiện xác động vật cách chúng hơn 32 km. Lý giải đằng sau khả năng đặc biệt này là cấu trúc dải khứu của chúng – phần riêng biệt của não chịu trách nhiệm tiếp nhận tín hiệu khứu giác – lớn hơn ít nhất năm lần so với loài người.

Gấu cũng có một cái mõm phát triển to bự, chứa hàng trăm thớ cơ với kích thước cực nhỏ, với khả năng điều khiển khéo léo ngang ngửa với các ngón tay của loài người. Diện tích bề mặt bên trong mõm của chúng chứa số lượng thụ thể hơn các loài thú họ Chó, và do đó, khứu giác của Gấu hoạt động cực mạnh, đủ đế bù đắp cho thị lực tương đối kém của chúng.

Ngoài ra, người ta cũng đã xác định rằng gấu có nhiều cơ hội đánh hơi tốt hơn bất cứ loài thú nào khi chúng bắt đầu đứng trên hai chân sau, nhờ vậy cải thiện khả năng “ngửi” hơn nhiều so khi di chuyển bằng bốn chân.

Snakes và Lizards: Rắn và các loài Thằn Lằn

Trong thế giới của các loài rắn và thằn lằn, khả năng sử dụng khứu giác đã được tăng cường một cách đáng kinh ngạc. Thay vì “ngửi” thông qua mũi, những loài bò sát này thu nhận mùi hương qua những chiếc lưỡi dài của chúng.

Lưỡi của Rắn (và Thằn lằn) thực hiện thu thập các hạt, phân tử trong không khí cũng như dưới nước và cung cấp thông tin quan trọng cho não bộ thông qua hai hố trên vòm miệng, trong chuyên môn thì gọi đó là “vùng Jacobson“, tại đây tiến hành phân tích các phân tử trong không khí, và phán đoán xem nguồn gốc của các phân tử này, có thể đến từ một mối đe dọa tiềm tàng, một con mồi tiềm năng hay bất cứ thứ gì khác – chúng thậm chí còn có thể xác định chính xác hướng mà các phân tử này bay ra!

Do đó, với hệ thống khứu giác nhạy bén của mình, một con rồng Komodo (loài thằn lằn lớn nhất thế giới) có thể phát hiện ra con mồi hoặc một cái xác đang phân hủy ở khoảng cách hơn 9 km.

Sharks: Cá mập

Trong số tất cả các loài cá sống ở dưới đại dương, Cá mập là loài có hệ thống khứu giác nhạy bén nhất, và do khả năng khứu giác chính xác nhất đó – đã có lúc người ta đã cho rằng chúng có thể phát hiện chính xác vị trí một giọt máu đổ ra trong lòng đại dương rộng lớn.

Lỗ mũi của một con cá mập nằm ở mặt dưới hàm trên của chúng và được lót bằng các tế bào chuyên biệt bao gồm các biểu mô khứu giác – trong khi bơi, nước chảy qua hai lỗ mũi và các phân tử hóa chất hòa tan trong nước tiếp xúc trực tiếp với biểu mô này, cho phép các thụ thể trong biểu mô bắt lấy và truyền tín hiệu đến não bộ để phân tích và xử lý.

Do đó, hệ thống tiếp nhận của chúng có độ nhạy cực cao. Không chỉ vậy, tương tự như các loài động vật đã nói ở trên, dải khứu của cá mập phát triển với kích thước rất lớn. Kết quả là, chúng có thể phát hiện ra một vài phần hóa chất nhỏ nhất trong hàng nghìn tỷ giọt nước của đại dương, bất kể là nguồn gốc từ một con mồi béo bở, một mối đe dọa tiềm tàng hoặc một người bạn đời tiềm năng chăng nữa.

Bí mật: Loài chó có thể nhận ra tiếng gọi tên mình cho dù đứng giữa đám đông

Những khám phá này rất hữu ích cho những nhà huấn luyện chó nghiệp vụ trong các trường hợp bạo loạn hay tình huống khẩn cấp. Thegioidongvat sẽ cùng các bạn tìm hiểu kỹ hơn về khả năng mới này của các BOSS.

Mọi chú chó đều có khả năng nhận biết khi tên của mình được sướng lên giữa đám đông ồn ào, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tạm gọi đây là “hiệu ứng Cocktail”.

Trong các thí nghiệm gần đây được thực hiện tại Đại học Maryland, các nhà khoa học phát hiện ra rằng những anh bạn đang sống cùng chúng ta có khả năng cảm nhận được tên của chúng được ai đó gọi khi ở trong khu vực có mức độ âm thanh lớn. Đặc biệt, chúng có thể nhận ra âm thanh được nói bởi một giọng nói xa lạ (mặc dù chúng không hề thể hiện bằng hành động và tiếng sủa với người đó).

Đây có thể là thông tin quan trọng với những người huấn luyện chó chuyên nghiệp và dạy chó tại các cửa hàng. Nếu được huấn luyện, những chú chó có thể nhận ra và làm theo lệnh của một người khác (không phải là chủ) trong môi trường bị tác động bởi nhiều tạp âm, đây là thông tin được công bố trên tạp chí Animal Cognition.
Để làm rõ hơn vấn đề này, giáo sư Stanley Coren thuộc khoa tâm lý học tại Đại học British Columbia cho biết: “Khi ra lệnh bằng tay, những chú chó sẽ thường quan sát xung quanh để xác định tình huống. Vì vậy, khi được huấn luyện chúng sẽ có khả năng nhớ ra hành động khi được giáo viên lặp lại.”

Các đồng nghiệp của Stanley đã “tuyển” chó dịch vụ, chó trị liệu và tìm kiếm cứu hộ. Trong thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu đã đặt chú chó vào các phòng thử nghiệm có bố trí loa ở hai bên. Sau đó, các nhà khoa học sẽ phát các bản ghi âm của một người phụ nữ xa lạ, liên tục nhắc đi nhắc lại tên của chúng (cùng một cách gọi với nhiều kiểu khác nhau). Các bản ghi âm này, có độ ồn tương tự như tiếng tại các quán cafe. Những phân tích viên sẽ làm nhiệm vụ tính thời gian chúng quay đầu về phía chiếc loa phát tên của chúng. Kết quả cho thấy những chú chó hoàn toàn chú ý tới những tiếng gọi mà bỏ qua sự ồn ào xung quanh. Mặc dù vậy, với ba mức âm thanh khác nhau thì những chú chó tại thử nghiệm chỉ nghe được nếu như tiếng ồn không lớn hơn tiếng gọi của người phụ nữ kia. Trong khi đó, những bạn chó dưới 13 tháng tuổi lại chỉ nghe được tiếng gọi ở cấp độ đầu tiên.

Những chú chó được huấn luyện

Có lẽ không có gì quá ngạc nhiên bởi việc huấn luyện trong thời gian dài khiến những bạn chó được huấn luyện sẽ có phản ứng khác hoàn toàn với dạng pet nuôi tại nhà. Việc sử dụng tên của chó cũng tác động tới thí nghiệm rất nhiều. Thông thường, những nhà huấn luyện chó chuyên nghiệp sẽ thu hút sự chú ý của chó bằng cách gọi tên trước khi đưa ra mệnh lệnh. Tiếp xúc, đào tạo trong thời gian nên khi nghe tới những khẩu lệnh này, các bạn chó sẽ thực hiện ngay lập tức. Tuy nhiên, việc chú chó phản ứng với những người lạ khi gọi tên khiến các nhà khoa học càng khẳng định hơn “Hiệu ứng Cocktails” là hoàn toàn có cơ sở.

Top 10 sự thật về chó sục Yorkshire

Tuy là loài chó có thân hình nhỏ bé nhưng mỗi cá thể Yorkshire lại mang một tính cách khác nhau. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng yeupet.vn tìm hiểu thêm về giống chó tinh nghịch này và lịch sử ra đời của nó nhé!

1. Chó sục Yorkshire có nguồn gốc là những “người thợ săn” chuột

Yorkshire được nhân giống từ nhiều loài chó sục khác nhau, bao gồm cả chó sục Waterside, với mục đích chính là săn bắt chuột. Loài này được nuôi nhiều bởi những người thợ mỏ, thợ dệt may và các chủ doanh nghiệp ở Scotland để giữ cho không gian làm việc không bị đám gặm nhấm phá hoại. Nhờ kích thước nhỏ con, Yorkshire có thể dễ dàng chen vào các vùng có không gian nhỏ hẹp. Bên cạnh đó, với tính cách hung dữ của loài này, chúng đã nhiều lần khiến lũ chuột khiếp sợ mà không dám quay lại lần tiếp theo. Giống như những “anh bạn” chó săn khác, Yorkshire cũng được sử dụng trong các cuộc đi săn để cùng bắt những con mồi trong hang với chủ nhân của mình

2. Yorkshire lần đầu được đưa vào Anh bởi những người thợ dệt.

Khoảng giữa những năm 1800, khi những người thợ dệt đến Anh quốc để làm việc, họ đã mang theo chú chó nhỏ này bên mình. Không lâu sau, giống chó bắt đầu nhân giống và xuất hiện nhiều trên các chương trình vào năm 1861.

3. Chó sục Yorkshire từng được đổi tên

Khi giống chó này lần đầu tiên xuất hiện ở Anh, chúng được gọi là “chó sục Scotch lông gãy”. Người dân nơi đây đã giữ biệt danh này trong gần một thập kỷ cho tới khi một phóng viên tên Angus Sutherland lên tiếng phản đối và nói rằng cái tên này cần được thay đổi. Anh tin rằng mặc dù Scotch lông gãy có nguồn gốc từ Scotland, nhưng phải đến khi tới Yorkshire, giống chó này mới thực sự được nuôi lớn và phát triển. Theo Sutherland trả lời trên tạp chí The Field: “Vì chúng đã lớn lên ở đây nên loài này không nên mang danh “chó sục Scotch” mà phải là “chó sục Yorkshire”. Cái tên này chính thức được sử dụng vào năm 1870 sau khi nhận được sự đồng thuận của đa số người dân

4. Chú chó góp phần quan trọng trong quá trình hình thành giống Yorkshire

Ngày nay, chú chó mang tên “Huddersfiled Ben” được coi là “cha đẻ” của giống Yorkshire này. Khi tham gia các giải đấu lớn nhỏ dành cho chó, Ben đã xuất sắc giành chiến thắng và mang về cho mình tới hơn 70 giải thưởng khác nhau. Tuy là “cha đẻ” của Yorkshire với cân nặng “khủng”, gần 5kg nhưng những đứa con “hậu duệ” sau này của Ben lại nặng vỏn vẹn xấp xỉ 2kg – số cân tương đối khiêm tốn so với “bố” của mình. Dù chỉ sống tới năm 6 tuổi nhưng “chàng” chó này đã để lại một gia sản ấn tượng khi trở thành họ hàng xa của hầu hết những chú chó Yorkshire được nhân giống ngày nay

5. Yorkshire là chú chó trị liệu đầu tiên trên thế giới 

Vào Thế chiến II, một chú chó Yorkshire được tìm thấy trong một cái hố bởi người lính Mỹ Bill Wynne. Chàng trai này sau đó đã cứu chú lên, đặt tên là Smoky và coi chú như đồng đội cùng chiến đấu của mình. Bill và Smoky vượt biển qua New Guinea. Nhờ kích thước nhỏ bé và biết vâng lời, Smoky có thể dễ dàng chạy qua các đường ống và trở thành tay liên lạc đắc lực giữa quân đội Mỹ với Nhật Bản. Nếu không có sự giúp đỡ của chú chó này, có lẽ các binh lính đã phải đào hào và phơi mình trước hỏa lực của kẻ thù để truyền tin.

Smoky cũng đi thăm các bệnh viện trên khắp Thái Bình Dương và Hoa Kỳ. Sự xuất hiện của chú như một liều thuốc tâm hồn cho những người lính bị thương nơi đây. Sau thời chiến, Smoky và Wynne đã đến Hollywood, nơi chú chó biểu diễn khả năng của mình trên nhiều chương trình truyền hình khác nhau. Bạn đọc có thể đến thăm một tượng đài tưởng niệm dành Smoky ở Cleveland, Ohio,  nơi chú đã qua đời

6. Lông của Yorkshires rất dài

Lông của Yorkshires thậm chí có thể so sánh với tóc của công chúa Rapunzel. Đặc điểm của lông chó Yorkshire là hầu như không rụng. Vì vậy, chủ nhân của giống chó này là người quyết định độ dài ngắn của lông. Nếu không được chăm sóc, lông chó sẽ tiếp tục phát triển giống như tóc của con người và có thể dài tới 60cm. Nếu như những chú chó biểu diễn được giữ lông dài thì những chú chó nuôi thường lại được chủ cắt ngắn lông đi để giúp chúng không bị vấp hoặc dính thức ăn.

7. Chú chó Yorkshire đóng vai trò tạo nên một giống chó hoàn toàn mới

Năm 1984, một “nàng” chó Yorkshire  tên Schneeflocken von Friedheck được sinh ra với những dấu hiệu khác thường với bộ lông màu trắng, xanh và vàng. Vì vậy, hai nhà lai tạo Werner và Gertrud Biewer đã quyết định dùng chú chó con độc đáo này để lai tạo ra giống chó mới. Bằng việc nhân giống cẩn thận và chọn lọc, họ đã thành công tạo ra một giống chó khác tên “chó sục Biewer”. Vào năm 2018, Câu lạc bộ chó giống Hoa Kỳ đã tạm thời chấp nhận đơn đăng ký của giống chó này 

8. Yorkshire có thể tạo ra những tiếng động thú vị

Chó sục Yorkshire đặc biệt dễ bị phản xạ bịt miệng, hoặc hắt hơi ngược. Ví dụ như thay vì đẩy không khí ra khỏi mũi như hắt hơi bình thường, chú chó sẽ thở hổn hển và tạo ra những âm thanh chói tai như tiếng kêu một con ngỗng. Mặc dù những âm thanh này có thể khiến người nghe lo sợ về tình  trạng sức khỏe của giống chó này nhưng hãy yên tâm nhé! Vì đây chỉ là những âm thanh vô hại và sẽ kết thúc sau vài phút. Thông thường, loài này sẽ xảy ra những triệu chứng trên khi tiếp xúc với các chất như phấn hoa, bụi, chất tẩy rửa hoặc nước hoa

9. Yorkshire là một trong những giống chó đầu tiên được đăng ký

Mặc dù không phải là một giống chó lâu đời nhưng loài nhỏ con này là một trong những giống chó đầu tiên góp mặt trong Câu lạc bộ chó Hoa Kỳ. Chó sục Yorkshire đã được đăng ký vào năm 1885 cùng với những “anh bạn” huyền thoại như giống chó săn thỏ, chó săn Basset và chó sục bò

10. Yorkshire là giống chó đáng tin cậy và biết bảo vệ chủ nhân của mình

Tuy có thân hình nhỏ bé với cân nặng trung bình khoảng 3kg nhưng tính cách của Yorkshire lại đặc biệt mạnh mẽ và có thể sẵn sàng chiến đấu với bất kỳ tên chó nào lớn hơn mình

Vào tháng 8 năm 2015, người đàn ông tên Larry Yepez bước ra khỏi nhà của anh ta vào sáng sớm khi trời vẫn còn tối và bị tấn công bởi một con gấu gần đó. Tuy có thể chống cự nhưng để vật lộn với một loài động vật có vú nặng tới hơn 90kg thì hẳn chẳng phải là việc dễ dàng gì với Yepez. Trong khi sức lực gần như cạn kiệt, may mắn thay, chú chó Yorkshire của anh đã xuất hiện và cắn gót chân con gấu giúp đánh lạc hướng và nhờ vậy, Yepez mới có thể trốn thoát nhanh chóng. Yepez sau đó đã tự lái xe đến bệnh viện với tình trạng người đầy máu và kể lại câu chuyện này.

Top 8 sự thật thú vị về chó Sa Bì

Bạn đã biết gì về Sa Bì – loài chó hiếm nhất trên Trái Đất chưa ? Từ chú chó hiếm người biết tới nhất trên Trái Đất cho tới con cưng của Hollywood và truyền thông toàn cầu. Sa Bì đã đi một chặng đường rất dài và gập ghềnh kể từ khi dành được sự chú ý từ nhân dân Trung Quốc hơn 40 năm trước. Hôm nay, hãy để yeupet.vn đưa bạn làm quen với chú chó này cùng tiểu sử có một không hai của chúng nhé!

1. Lịch sử ra đời của Sa Bì

Người dân Trung Hoa tin rằng giống chó cổ này có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Đông và đã sống hàng thế kỷ ở các tỉnh phía Nam, Trung Quốc kể từ thời nhà Hán (khoảng năm 200 trước Công nguyên). Những cổ vật được phát hiện có niên đại trong thời kỳ này mang nhiều điểm tương đồng với hình dáng của loài Sa Bì.

Câu lạc bộ chó Sa Bì Trung Quốc tại Mỹ đã dịch một bản viết tay về Trung Quốc thế kỷ XIII, trong đó có đề cập đến một loài chó với làn da nhăn nheo cùng những đặc điểm giống như chó Sa Bì. Sau khi Cộng hòa Dân tộc Trung Hoa được thành lập với tư cách là một quốc gia cộng sản, số lượng cá thể chó ở nước này gần như bị xóa sổ. Trong thời gian này, Sa Bì chỉ được nhân giống với một số lượng nhỏ ở Hồng Kông và Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan)

2. Hành trình đến Mỹ của Sa Bì

Tài liệu lịch sử của chó Sa Bì ở Mỹ đã có từ năm 1966 khi một vài cá thể chó được đăng ký với Câu lạc bộ chó giống Hồng Kông khi nhập vào kho. Nhưng hóa ra đó chỉ là lời biện hộ bừa bãi vào năm 1973 của ông Matgo Law thuộc Câu lạc bộ chó Hồng Kông, với nguyện vọng cầu xin những người yêu chó Hoa Kỳ cứu sống chó Sa Bì Trung Quốc

Vì Sa Bì rất hiếm có nên vào mùa thu năm 1973, một số lượng nhỏ loài này đã được nhập vào Hoa Kỳ. Nhờ bộ lông nhăn nheo đặc biệt của mình, chúng nhanh chóng trở thành hiện tượng truyền thông và thu hút được sự chú ý từ công chúng trong suốt những năm 70 và 80.

Sách kỷ lục Guinness đã tuyên bố Sa Bì Trung Hoa là giống chó hiếm nhất trên Trái đất. Chúng còn từng được xuất hiện trên trang bìa tạp chí LIFE của Mỹ. Mỗi thiệp chúc mừng, lịch, quảng cáo thời trang dường như đều góp mặt Sa Bì 

Khi ấy, các nhà bán chó đã lai giống để tạo ra nhiều lứa chó nhanh nhất có thể với mục đích kiếm tiền. Người mua không dựa trên sức khỏe để chọn lựa chó Sa Bì, thay vào đó, họ tiêu thụ những chú chó con với giá hàng ngàn đô la. Cơn sốt Sa Bì Trung Hoa sau đó đã chững lại và hạ nhiệt. Câu lạc bộ chó giống Mỹ công nhận giống chó này vào năm 1992.

3. “Chiếc áo” độc đáo của chó Sa Bì

“Sa Bì” thực chất nghĩa là “lớp da cát”, chúng ta có thể hiểu đó là phần lông thô, lông cát, hoặc phần lông xù xì như giấy nhám. Đây là đặc điểm rất nổi bật trên lông của chó Sa Bì, chúng ngắn và nhám. Lớp lông giúp loài này trông khỏe mạnh mà không bị bóng loáng

Sa Bì tiêu chuẩn có độ dài lông khác nhau. Một vài cá thể có lông cực ngắn, một số khác lại dài như lông bàn chải nhưng không dài quá 2,5 cm ở đỉnh vai. Những bộ lông mềm, lượn sóng và dài hơn 2,5 cm ở đỉnh vai đều bị coi là biến thể.

4. Giống Sa bì có những đặc điểm kỳ lạ

Sa Bì Trung Hoa là loài chó mà một khi nhìn thấy, bạn sẽ không thể nào quên bởi những đặc điểm thể chất khác thường của chúng. Giống chó Sa Bì tiêu chuẩn có phần mõm giống như của hà mã cùng đôi môi dày. Lưỡi loài này mang màu xanh đen, pha với sắc tím nhạt. Đôi mắt Sa Bì nhỏ và trùng xuống khiến cho người nhìn lúc nào cũng lầm tưởng rằng chúng đang cau có vì điều một điều gì đó. Đôi tai loài này có hình chữ nhật và khá nhỏ nhắn.

Từ khi còn nhỏ, lớp da của Sa Bì đã nhăn lại trông rất ngộ nghĩnh. Càng lớn lên, lớp da ấy càng phát triển, tạo nên những nếp gấp lớn trên đầu cổ và vai. Đuôi của chúng vươn cao, thon gọn với chóp đuôi uốn cong sang một bên lưng. 

5. Chó Sa Bì có những màu lông nào?

Sa Bì là giống chó “đơn sắc” với bảng màu lông trải dài từ đen cho tới sắc kem nhạt, bao gồm màu nâu sô cô la, xanh nước biển, đỏ cùng vô số sắc độ khác. Tất cả các màu lông của chó Sa Bì đều được ưa chuộng như nhau. Chó Sa Bì thuần Trung sẽ có những sợi lông điểm đen, tạo hiệu ứng hơi bóng mờ

Vì tiêu chuẩn của giống chó này chỉ có một màu duy nhất cho toàn bộ lông nên những giống có lông điểm nâu, lông đốm (ví dụ như chó Sa Bì “hoa”) và chó có “hoa văn” (giống như các vết đen, nâu của chó Doberman) đều bị loại.

6. Kích thước cơ thể của chó Sa Bì

Tiêu chuẩn giống chó Sa Bì Trung Hoa quy định chiều cao khoảng từ 46 đến 50 cm với trọng lượng từ 20 tới 27 kg. Các cá thể đực thường có thân hình lớn và đô con hơn con cái nhưng cả hai đều có kích thước khá cân đối, hài hòa.

Thời giống Sa Bì còn “làm mưa làm gió” trong thị trường những người yêu chó thì những nhà lai tạo từng quảng cáo chúng có ba kích cỡ khác nhau, giống như chó Poodle. Bạn cần tránh xa những người bán chó rêu rao với bạn rằng giống “Sa Bì Mini” và “Sa Bì tí hon” có giá trị hơn những giống Sa Bì khác vì những nhà bán chó có tâm sẽ không bao giờ nói về Sa Bì như vậy.

7. Khi Sa Bì sống cùng với gia đình chủ:

Sa Bì là loài chó độc lập, dè dặt và thường nghi ngờ người lạ. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì chúng từng được nhân giống để trở thành người bảo vệ chủ và canh giữ nhà. Tuy khép mình với người lạ là vậy nhưng Sa Bì lại rất tận tụy, trung thành và yêu thương “tổ ấm” mình thuộc về.

Nếu như muốn sống hòa thuận, chủ chó nên cho Sa Bì thời gian làm quen với trẻ em, người lạ và các vật nuôi khác trong nhà từ khi còn nhỏ. Tiêu chuẩn giống AKC mô tả tính khí Sa Bì là một loài sống “sang chảnh”, cảnh giác, thông minh, đàng hoàng, cau có, tỉnh táo và có phần hợm hĩnh.

8. Các vấn đề và bệnh liên quan đến Sa Bì

Chó Sa Bì Trung Quốc đã phải trả giá đắt cho sự nổi tiếng của mình vào những năm 1970 và 1980. Thời điểm ấy, Sa Bì giống như một “thú chơi” của người dân, ai cũng muốn sở hữu một chú chó Sa Bì để bắt kịp “mốt” với mọi người xung quanh. Chính bởi lẽ đó, nhiều lứa chó con bị gây giống bừa bãi bởi những người vô trách nghiệm, họ đem bán với giá cực kỳ hấp dẫn để mồi chài những người thèm mua giống chó này. Trong nhiều năm liền, Sa Bì phải mang trong mình các vấn đề về da và bệnh về mắt.

Sau khi “thú chơi” hạ nhiệt, những người yêu chó đã dành toàn bộ tâm huyết của mình trong việc tạo ra các thế hệ chó khỏe mạnh trong tương lai. Họ tìm những nhà lai tạo có tiếng để kiểm tra sức khỏe của tứng con chó.

Ảnh hưởng của chó cưng lên nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt ở con người

Trẻ em có chó cưng trong nhà trước 12 tuổi có nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt thấp hơn.

Một nghiên cứu mới từ Trường Y khoa Đại học Johns Hopkins báo cáo một số phát hiện về mối quan hệ giữa việc nuôi chó và sức khỏe tâm thần của con người. Rằngg nuôi chó cưng giúp cải thiện sức khỏe tinh thần và giảm một số yếu tố nguy cơ tâm lý. Những người nuôi chó ít bị các vấn đề căng thẳng và trầm cảm.

Nghiên cứu mới còn cho thấy việc tiếp xúc sớm với chó cưng giảm đáng kể nguy cơ tâm thần phân liệt sau này.Kết quả này rất quan trọng do bản chất của bệnh tâm thần phân liệt. Người bệnh rơi vào nhiều tính cách. Họ khó nhận ra thực tế, không thể suy nghĩ logic và hành xử phù hợp trong các tình huống xã hội. Họ thậm chí mất khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc hoặc giao tiếp có ý nghĩa. Bệnh nhân tâm thần phân liệt có tuổi thọ giảm và khả năng tự tử tăng rất nhiều.

Tổ chức Y tế Thế giới xếp tâm thần phân liệt là một trong 10 bệnh tật nghiêm trọng hàng đầu.Đối với các nhà tâm lý học, khía cạnh đặc biệt đáng lo ngại của tâm thần phân liệt là còn lâu lắm mới có cách chữa trị cho nó. Đó là một căn bệnh suốt đời và mặc dù các triệu chứng loạn thần cực đoan đến rồi đi, các triệu chứng cảm xúc tiêu cực và sự gián đoạn nhận thức sẽ vô cùng dai dẳng.

Theo Cẩm nang Chẩn đoán Triệu chứng của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, những người bị tâm thần phân liệt thường có “tiên lượng thận trọng” và “phục hồi hoàn toàn là khó xảy ra.” Ước tính chỉ có 15 đến 20 phần trăm những người bị tâm thần phân liệt có kết quả hoàn toàn thuận lợi. Hơn nữa, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt lớn đến mức đáng ngạc nhiên ở mức 1/100 trên toàn thế giới.Do tính chất phá gãy của bệnh tâm thần phân liệt, do tỉ lệ mắc bệnh tương đối cao trong xã hội và do không thể điều trị thành công, bất cứ phương pháp nào có thể làm giảm nguy cơ xuất hiện bệnh đều cần thiết và nếu kết quả nghiên cứu này được áp dụng sẽ giúp giảm yếu tố rủi ro xuống một mức khá lớn.

Nhà nghiên cứu Robert Yolken thuộc khoa Thần kinh học Nhi khoa tại Trung tâm Trẻ em John Hopkins. Trước đó, Yolken và các đồng nghiệp đã tìm thấy mối liên hệ giữa các rối loạn tâm lý nghiêm trọng (tâm thần phân liệt hoặc rối loạn lưỡng cực) và tiếp xúc với các khía cạnh của môi trường trong giai đoạn đầu đời có thể ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của trẻ đang phát triển. Có rất nhiều dữ liệu xác nhận rằng có một con chó cưng trong thời thơ ấu có thể tăng cường hệ thống miễn dịch của trẻ.Điều này dẫn đến lợi ích tỷ lệ dị ứng thấp hơn. Vì có thú cưng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và hệ thống miễn dịch liên quan đến sự xuất hiện của các vấn đề tâm lý, Yolken và các đồng nghiệp tại Hệ thống Y tế Sheppard Pratt ở Baltimore cho rằng cần xem xét sự liên quan giữa một đứa trẻ có tiếp xúc với mèo chó cưng trong gia đình và nguy cơ chẩn đoán tâm thần phân liệt hoặc rối loạn lưỡng cực khi trưởng thành.

Đây là một nghiên cứu lớn với 1.371 người trong độ tuổi từ 18 đến 65. Rất khó thu thập số lượng lớn bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn tâm lý cụ thể, tuy nhiên nhóm nghiên cứu này đã thử nghiệm 396 người tâm thần phân liệt và 381 bị rối loạn lưỡng cực. Những bệnh nhân này được so sánh với 594 cá nhân đối chứng không có vấn đề tâm thần. Tất cả những người tham gia nghiên cứu đều được hỏi có nuôi chó hay mèo trong nhà trong 12 năm đầu đời hay không.

Các phân tích thống kê rất rộng và thường khó diễn giải cho những người chưa được đào tạo, tuy nhiên những phát hiện chính khá rõ ràng. Việc sở hữu mèo cưng không có ảnh hưởng đáng kể đối với nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt hoặc bệnh lưỡng cực. Chó cưng cũng không có ảnh hưởng nào đến nguy cơ rối loạn lưỡng cực.Tuy nhiên khi xem xét mối liên hệ giữa việc có chó cưng và bệnh tâm thần phân liệt, kết quả lớn đến mức đáng ngạc nhiên.

Những người có con chó cưng trước sinh nhật thứ 13 ít bị tâm thần phân liệt. Sự kết hợp làm giảm 24%. Đối với trẻ có chó cưng trong gia đình khi mới sinh hoặc tiếp xúc với trước 3 tuổi, việc giảm nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt lên tới 50%.Nếu các tỷ lệ nguy hiểm trong báo cáo này phản ánh chính xác về nguy cơ mắc bệnh thì khoảng 840.000 trường hợp mắc bệnh tâm thần phân liệt (24% trong số 3.500.000 người được chẩn đoán mắc chứng rối loạn ở Mỹ) có thể không mắc bệnh nếu tiếp xúc với một con chó cưng trong nhà khi còn nhỏ. Phòng ngừa là cách duy nhất chúng ta có thể chống lại bệnh tâm thần phân liệt vì nó rất khó chữa.Tôi tin rằng các nhà nghiên cứu này đã giật mình về quy mô của mối liên quan.

Tiến sĩ Yolken gợi ý: “Có nhiều cách giải thích hợp lý cho tác dụng phòng vệ khi tiếp xúc với chó. Có lẽ một thứ gì đó trong hệ vi sinh vật chó truyền sang người thúc đẩy hệ thống miễn dịch có khả năng chống hoặc áp đảo khuynh hướng di truyền tâm thần phân liệt.”

Các nhà khoa học cho rằng con chó mang nhiều thứ bên ngoài nhà vào trong nhà và chuyền sang đứa trẻ bằng cách liếm trẻ. Những chất này kích thích hệ thống miễn dịch của trẻ và làm hệ thống miễn dịch phát triển mạnh hơn. Điều này một cách nào đó đã làm giảm nguy cơ phát triển tâm thần phân liệt sau này.Rõ ràng những nghiên cứu có tầm quan trọng như thế này cần nhân rộng và tôi đã gửi một bản cho cháu gái của tôi đang có đứa con một tuổi và đang mang thai. Tôi tin những dữ liệu này sẽ cung cấp lý do đầy đủ để cô ấy đem một con chó cưng về nhà.

Nguồn: Chi Tu (HORUS FORUM)