Kinh Nghiệm Nuôi cá dĩa

1) Độ tuổi và mầu sắc của cá:
 
Với những người có ý định nuôi dưỡng cá nhỏ, hãy nên mua cá trong khoảng từ 4-6 tháng tuổi, tức là lúc đó chúng có đường kính thân (kể cả vây) được khoảng 6-7 cm. Đây là giai đoạn cá còn đang phát triển rất nhanh về kích thước, thể trạng khá khoẻ mạnh và có thể chịu được một vài cú sốc ban đầu khi thay đổi môi trường nước, nhiệt độ, thức ăn .v.v. ; Các bạn nên nhớ rằng khi nuôi dưỡng ở nhà chúng ta, cá sẽ không thể có được 1 điều kiện chăm sóc lý tưởng để phát triển tối đa do thiếu sự ổn định về môi trường sống (lười thay nước chẳng hạn hoặc sự giảm nhiệt độ trong mùa đông ở các tỉnh miền Bắc), do thiếu đa dạng trong nguồn dinh dưỡng … vì vậy, nếu chọn mua cá quá non tuổi, chúng sẽ rất khó khăn trong việc phát triển sau này. Kiểu như mình vẫn nói “Yếu mà cứ đòi ra gió ấy mà ” )
Con bồ câu này của mình mới được 6 tháng tuổi, chưa lên mầu nhưng đã đạt 8cm rồi.
cadia4
Còn con này 4,5 tháng, mới khoảng 6cm
cadia5

Với những con cá khoẻ, không bị còi thì ở kích thước như vậy chúng chưa thể có được mầu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành. Vậy nên con cá nào ở kích thước như vậy đã có mầu sắc sặc sỡ, đậm nét thì rất có thể là cá đã già tuổi nhưng bị còi cọc. Chúng ta không nên chọn loại này vì chỉ đẹp được trước mắt, chứ nuôi mãi cũng khó mà to lên được. Ngoài ra, cũng cần kể đến trường hợp hiện nay các trung tâm nuôi dưỡng và sản xuất cá đĩa cung cấp cho thị trường thường trước khi xuất hàng ra thị trường 1 tháng thì cho cá ăn các loại thức ăn kích thích mầu sắc hoặc có các thủ thuật nhuộm mầu làm con cá có mầu sắc đẹp, nổi bật nhưng không phù hợp với mầu sắc thật sự tương ứng với độ tuổi của cá. Những trường hợp này, người nuôi sẽ rất dễ bị thất vọng vì thấy càng nuôi, càng thấy mầu sắc cá của mình nhạt bớt đi. Bản chất hiện tượng này sẽ được trình bày ở phần sau (chăm sóc cá đĩa).
Có 1 cách khác là có thể căn cứ vào đường kính mắt cá to hay bé để đoán tuổi cá, nhưng cách này càng khó hơn, đòi hỏi bạn phải là người rất nhiều kinh nghiệm và có thâm niên trong nghề .

2) Quan sát dáng vẻ cá:

– Con cá khoẻ mạnh sẽ có biểu hiện nhanh nhẹn, hoạt bát và luôn bơi chậm rãi, khoan thai và thường thích bơi ở tầm nước trung (giữa bể), vây luôn căng, mầu không bị sẫm đen, không nổi nhiều sọc ở mình. Tránh không chọn những con có biểu hiện cụp vây, mầu sẫm và nép sát đáy bể hoặc nép sát các góc bể vì đó là những con cá đang có dấu hiệu bị bệnh hoặc ốm.
– Mình cá phải càng dầy càng tốt, chú ý phần bụng cá phải luôn căng vừa phải chứ không bị lép: Có những con do bị nhiễm sán hoặc bị hỏng đường ruột nên không thể tiêu hoá được nhiều thức ăn, do đó bụng cá luôn không có nhiều thức ăn, lâu ngày 2 lớp da dính sát vào nhau nhìn mỏng dính. Những con cá này rất khó nuôi lớn đạt kích thước 12cm trở lên được.
– Vây trên dưới của cá phải phát triển đều cả 2 phía và hình dáng phải có hình tròn mới là cá đẹp và khoẻ. Thông thường cá đĩa khi phát triển tốt thì mình cá sẽ tròn, trừ loài cá Xanh đức là có dáng hơi dài, vì vậy nếu thấy con cá nào có mình hơi dài thì cũng không nên chọn.

3) Thử cho ăn mồi:

– Nên bảo chủ cửa hàng cho mồi vào bể để thử phản xạ ăn mồi của cá. Với những con khoẻ mạnh, nếu đang ở độ tuổi đã nói ở trên sẽ rất háu ăn và những con khoẻ nhất đàn sẽ tranh ăn của những con khác rất mãnh liệt, ta nên chọn những con đó.
– Chú ý rằng: cá đĩa rất hay đớp mồi ngậm trong miệng nhưng lại nhả ra, vì vậy cá được đánh giá là khoẻ khi chúng ăn mồi thật sự chứ không phun hết thức ăn ra ngoài.

Tranviethoai

Nguồn chimcacanh

Khẩu phần thức ăn của cá dĩa hoang dã

Hồi còn nhỏ, con trai tôi có một cái bàn nhỏ đặt cạnh hồ cá. Nó bỏ hàng giờ để vẽ, viết và làm bài tập về nhà trên cái bàn này. Cá cũng quen với sự hiện diện của nó và nhiều lần tôi phải nhắc nhở đừng cho cá ăn đủ thứ từ vụn bánh mì cho đến mì spaghetti. Phản ứng của con trai tôi là “Chúng trông rất đói bụng. Nhìn kìa, chúng nhao nhao khi con đang ăn”. Cho dù tôi có nhắc bao nhiêu lần rằng “Không được tự tiện cho cá ăn” thì lời nói cũng chẳng bao giờ lọt vào tai nó. Thức ăn nó bỏ vào không bao giờ được tiêu thụ và tôi đều phải vớt ra – ngoại trừ một lần.

cadia29

Loại trái lạ
Khoảng hai năm trước, tiệm cá địa phương có nhập về một số cá dĩa xanh dương (Symphysodon aequifasciata haraldi) rất đẹp. Sự hấp dẫn quá lớn khiến tôi không thể cưỡng nổi và mua bốn con. Giống như mọi người, tôi không có sẵn chỗ để nuôi chúng. Việc này đòi hỏi phải dời cá lòng vòng. Hồ được chọn nuôi là cái gần bàn học của con tôi. Nó đang chứa 6 con cá dĩa bồ câu cỡ trung bình mà sau đó được dời ra hồ bên ngoài. Cá dĩa xanh dương được thả riêng vào hồ này. Ban đầu chúng rất nhát nhưng sau vài ngày đã quen với hoạt động của con trai tôi.

Ba tuần sau, tôi tình cờ nói chuyện với hàng xóm, người có một hàng cây cherry acerola/cherry Mỹ (Malpighia glabra) còn gọi là cherry Barbados hay bách nhật hồng (crapemyrtle) hoang dã, trồng ở trước sân nhà. Loại cây nhỏ hay cây bụi thuộc họ Malpighiaceae này phân bố ở West Indies và phía bắc Nam Mỹ, cao đến 3 mét với tán lá rậm rạm và gai nhọn. Lá cây luôn xanh và có hình dạng từ bầu cho đến nhọn.

Trái có màu đỏ tươi, đường kính 1 cm và chứa từ hai đến 3 hạt cứng. Trái cây có vị ngọt và thơm, rất giàu vitamin C và những dưỡng chất khác. Cũng được gọi là cherry nhưng loài này không có họ hàng gì với loài cherry chính hiệu, tức cây mận (Prunus). Một số người cực kỳ thích các loại cherry nhưng tôi lại không thích vị của chúng. Con trai tôi cũng là một trong số những người thích chúng.

Trong khi tôi đang nói chuyện với người hàng xóm thì con trai tôi chạy qua và hái đầy một túi cherry đỏ tươi. Theo lịch thì hôm sau là ngày thay nước cho cái hồ ở cạnh bàn học. Tôi thấy nhiều hạt cherry trong hồ. Tôi liền gọi con trai và nhắc nó đừng thả hạt vào hồ. Nó khẳng định rằng cá ăn trái cây. Tôi không tin nhưng rồi nhận được hai bài học quan trọng: 1) tôi phải lắng nghe, thậm chí là lời nói từ một đứa bé và 2) đúng là cá dĩa ăn trái cây.

Con trai đi theo tôi sang phòng khác, lấy vài trái cherry Mỹ và nhân lúc tôi không để ý, thả chúng vào hồ. Ngay lập tức cá nhao lại và khi tôi quay vào thì chúng bắt đầu ăn trái cây trong khi con trai tôi hét lên “Thấy chưa, con đã nói mà”.

cadia30

Khẩu phần khác thường
Những con cá này từng từ chối mọi loại thức ăn ngoại trù trùn đen (blackworm). Hành vi này là bất thường. Thường thì cá dĩa hoang được cách ly vài tuần để được làm quen với thức ăn chế biến. Tuy nhiên, cách mà chúng ăn cherry Mỹ cho thấy rằng chúng quen thuộc với loại trái cây này. Tôi phải tìm hiểu xem sao. Tôi bước qua phòng bên, lấy một nắm trái cây và thả vào hồ nuôi cá dĩa bồ câu, cá dĩa bông và cá dĩa vàng.

Lũ cá nhìn lướt qua trái cây và rồi bơi lên mặt nước chờ được cho ăn những thứ quen thuộc với chúng. Tôi đành bỏ cuộc, với cảm giác rằng việc cá dĩa hoang ăn trái cây chỉ là sự tình cờ.

Vài chục năm trước, ở Brazil tôi đã nghe nói rằng cá dĩa ăn tảo và Wil Crampton, nhà nghiên cứu môi trường tự nhiên của cá dĩa, viết thư cho tôi rằng cá dĩa ăn nhiều tảo, đặc biệt là vào mùa khô (2005). Hiện tại, tôi đã tin rằng cá dĩa phần nào ăn thực vật vào mùa khô. Nhưng còn trái cây?

Điều này thực khó để chấp nhận mặc dù tôi từng thấy cá pacu ăn trái cây rụng trên mặt nước. Mọi người đều biết cá pacu là loài ăn thực vật và trái cây, nhưng cá dĩa được coi là loài ăn thịt thuần túy, chúng ăn côn trùng, giáp xác và cá nhỏ ngoài tự nhiên. Trong hồ cảnh, khẩu phần của chúng bao gồm tim bò, trùn đỏ và thậm chí cả cá mồi.

Sự cố với trái cherry Mỹ hoàn toàn bị quên lãng cho đến khi tôi đọc quyển sách mới phát hành của Heiko Bleher, Bleher’ s Discus, Volume 1 (nhà xuất bản Aquapress ở Ý). Trong sách này, Bleher gọi trái cherry Mỹ là cerejado-Cametá, cùng với những loại trái khác. Ông viết “cá dĩa nâu ăn trái cây”. Phát biểu đơn giản này giải thích hành vi của những con cá dĩa của tôi.

Nguồn diendancacanh

Phân biệt giới tính cá rồng

Chỉ số giới tính (Arowana Gender Index – AGI)
Việc lai tạo cá rồng châu Á hầu như chỉ được thực hiện trong ao đất. Một trong những yếu tố hạn chế việc gia tăng sản lượng là không thể xác định được giới tính của cá giống. Xác định giới tính cá rồng là yếu tố quan trọng trong vấn đề xác định tỷ lệ giới tính cá giống nhằm tối ưu hóa lai tạo.

Trong hợp tác nghiên cứu & phát triển giữa công ty Qian Hu và ông Alex Chang của Ngee Ann Polytechnic, một phương pháp xác định giới tính mới bằng chỉ số giới tính (AGI) được phát triển. Ngày nay, các nhà lai tạo cá cảnh thương mại có thể áp dụng phương pháp này để xác định tỷ lệ giới tính cá giống nhằm thu được nhiều cá con nhất. Phương pháp này đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả hơn so với cách nghiên cứu DNA truyền thống.

Phương pháp dựa trên sự khác biệt về quan hệ của các đặc điểm hình thái giữa cá rồng đực và cái trưởng thành. Phương pháp có độ chính xác cao (lên đến 70%) và chỉ số sẽ giúp cải thiện mức độ sinh sản của cá rồng giống. Chỉ số này được áp dụng cho cá rồng trên một tuổi và chỉ phù hợp đối với những con mạnh khỏe, không dị dạng.

carong22

HH: độ rộng thân tính từ gốc vây bụng (hay kỳ).
WH: độ dày thân tính từ gốc vây bụng (hay kỳ).
LH: độ dài đầu tính từ chóp râu đến viền nắp mang.

Cá đực sẽ có chỉ số giới tính (AGI) trên 111 và do đó chỉ số của cá cái sẽ thấp hơn.

Qian Hu không đề cập đến việc nghiên cứu được thực hiện trên dòng cá rồng nào nhưng theo logic thì có thể đoán là một trong hai dòng giá trị nhất là huyết long và quá bối, hoặc là cả hai. “Tỷ lệ giới tính” cá giống (nhằm đạt sản lượng cá con tối ưu) cũng được nhắc đến nhưng không hề có con số cụ thể.

Quan sát nắp mang
Dưới đây là quan sát của một nhà lai tạo người Nhật trên dòng cá quá bối. Tác giả lưu ý điều này có thể không chính xác ở những dòng cá khác, chẳng hạn như hồng vĩ.

carong23

* Với cá trưởng thành, hình chữ A ở nắp mang cá cái rõ ràng và kích thước mũi tên hẹp, trong khi vùng chữ A ở nắp mang cá đực méo mó và kích thước mũi tên rộng hơn. Điều này hợp lý vì cá đực ấp trứng trong miệng nên cổ họng và nắp mang phải to.

* Dạng đầu muỗng (spoon head) hay đầu đạn (bullet head) không liên quan gì đến giới tính. Kích thước vây cũng vậy, vây dài và to cũng chưa chắc là cá đực.

* Cá đực dài hơn, đầu to hơn trong khi cá cái ngắn và vuông vức hơn, đầu nhỏ hơn. Trong cùng điều kiện nuôi, cá đực phát triển nhanh và dài hơn so với cá cái. Ở kích thước dưới 20 cm thì chưa có nhiều khác biệt. Nhưng cá cái lớn chậm lại khi đạt 35 cm và phát triển thiên về chiều rộng, chiều dày và cân nặng. Ở 38 cm thì cá cái bắt đầu sinh sản.

* Màu sắc cá non cũng không có nhiều khác biệt. Nhưng khi trưởng thành, cá đực có nền xanh nhạt hơn và viền vàng phát triển đến 80% bề mặt vảy. Cá cái có nền xanh đậm hơn, và viền vàng phát triển chỉ đến 50% bề mặt vảy (người chơi quá bối nên lưu ý đặc điểm này).

Nguồn diendancacanh

 

Các bước chuẩn bị một hồ cá biển

Trước hết là hồ cáLàm bằng vật liệu thuỷ tinh là phổ biến nhất, hồ và phụ kiện không được dùng loại có kim loại tiếp xúc với trực tiếp với nước, nước mặn có tác dụng ăn mòn rất mạnh sẽ làm hỏng thiết bị và bất cứ muối kim loại nào trong nước cũng đều gây độc hại cho cá.
Kích thước hồ cá biển có tính cách quyết định đến thành bại hơn là cá nước ngọt, vì cá nước ngọt có thể chống lại những thay đổi khác nhau trong môi trường nước khi mùa khô hay mùa mưa đến và đi mang đến những thay đổi về thành phần các chất hay PH…Cá biển thì không cần thích nghi như vậy, bởi vì biển cả là một môi trường bền vững nhất hành tinh này, vì vậy nên giảm tối đa những thay đổi về môi trường nước của hồ cá biển. Hồ càng lớn càng tốt, mặt tiếp xúc với không khí phải thoáng rộng, hồ cá nhỏ nhất nên có dung tích tối thiểu là 160 lít, nhưng càng lớn thì sẽ càng tốn nhiều tiền.

cabien15

Nước nuôi cá biển
Có thể dùng nước biển thiên nhiên hay nước biển nhân tạo.
Nước thiên nhiên gồm đầy đủ các loại vi khoáng vi lượng bổ ích nhưng có nguy cơ ô nhiểm trừ khi được lấy xa bờ và được vận chuyển bằng các phương tiện vận chuyển thuần khiết.
Nước biển nhân tạo được pha từ muối nhân tạo và nước tinh khiết, muối nhân tạo được pha chế chuyên nghiệp gồm muối và đầy đủ các loại khoáng chất cần thiết và được đóng gói có nhãn hiệu, sẽ hoàn toàn phù hợp để nuôi cá biển nhưng phải tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi pha chế nên pha hết bịch để đảm bảo các chất khoáng vi lượng được phân phối đều, sau khi pha chế phải đựng trong hồ kiếng hoặc can nhựa thoáng khí và điều chỉnh chính xác bằng tỉ trong kế hoặc máy đo độ mặn điện tử ở nhiệt độ hiện tại. Tỉ trọng của nước nuôi cá biển thường khoảng từ 1.020 đến 1.025.

Hệ thống nuôi cá biển
Có hai phương pháp nuôi cá biển là hệ thống nuôi tự nhiên và hệ thống điều dưởng.
Hệ thống tự nhiên lọc bằng cách nuôi san hô sống, bọt biển và cây trồng hoặc rong rêu để lọc nước, không cần bất cứ thiết bị nào trong hồ cá ngoại trừ vòi bơm oxy. Phương pháp này phải cấy vi khuẩn hoá đạn trên mặt đá và thành hồ cá.

Hệ thống điều dưỡng sử dụng tối đa các phương tiện cơ khí và hoá học nhằm đạt được kết quả tối đa bằng máy lọc cực mạnh không để chút cặn bả nào dưới đáy hồ. Khử trùng toàn bộ các thiết bị và sỏi đá trước khi đặt vào hồ, sỏi đá đặt dưới đáy hồ nên ít hoặc bố trí hợp lý để tránh thức ăn dư thừa áăng đọng gây ô nhiểm nước.

Phương pháp thứ nhất cần sự hiểu biết về các phương tiện sinh học, phương pháp thứ hai cần các thiết bị hiện đại, tuỳ theo điều kiện mà ta chọn lựa. May mắn thay một phương án bù trừ giữa hay hệ thống trên có thể thực hiện được mà không cần nhiều phương tiện kỹ thuật và tốn kém gọi là phương pháp bán tự nhiên.

Phương pháp bán tự nhiên chủ yếu nhờ vào phương pháp lọc dưới sỏi có lẽ được dùng nhiều nhất trong ngành nuôi cá cảnh biển. Phương pháp này cần một lớp sỏi dá làm tầng đáy dày tối thiểu 7,5 Cm được đặt trong đáy hồ bên trên một tấm vĩ nhựa nhằm tạo khoảng trống bên dưới cho luồng nước di chuyển. tầng dáy gồm 3 lớp được phân chia như sau: lớp dưới cùng là vỏ sò ốc nghiền nát, lớp thứ hai là san hô vụn nát, lớp thứ ba là một lớp mỏng cát silica nằm trên cùng. Máy lọc được đặt sao cho dòng nước chảy tuần hoàn từ trên xuống dưới xuyên qua lớp sỏi rồi đi vào máy lọc.

Đá và san hô trang trí được rửa sạch trước khi sử dụng. Một phương pháp rửa sạch là nấu lên kế đến là nhiều gian đoạn nhúng trong nước ngọt rồ đem phơi nắng dưới ánh mặt trời, có thể dùng mũi để thẩm định chất lượng.

Lắp đặt các trang thiết bị vào hồ cá
Đầu tiên đặt tấm vỉ nhựa vào hồ, khoét lổ để đưa ống dẫn nước vào máy lọc, cho vào hồ lớp vỏ sò nghiền nát kế đến là lớp san hô chết rồi đến lớp cát mỏng. Sau đó là đá và san hô chết để trang trí và lam nơi trú ẩn cho cá, gắn máy lọc. Các vòi bơm không khí là không cần thiết trừ mục đích để trang trí vì bọt khí sinh ra từ máy lọc cũng đũ cung cấp khôn gkhí cho cá thở.

Cho nước vào hồ từ từ trảnh dòng nước làm xáo trộn thứ tự các vật liệu, có thể đặt vào hồ một xô nhựa nhỏ rồi bơm nước vào sao cho nước chảy đầy xô rồi tràn ra ngoài sẽ ít gây ảnh hưởng đến các vật liệu nền và trang trí.

Cũng như hồ cá nước ngọt, hồ cá biển khi được đổ đầy nước cũng phải bật máy lọc chờ một thời gian cho lắng động và ổn định, các vi khuẩn có lợi phát triển. Vì không có dấu hiệu rõ rệt sự phát triển hoàn tất nên ta cần phải đo đạt. Dùng máy đo PH, gấy quì hay dung dịch tesh kiểm tra PH cân bằng khoảng 8.3 là đủ.

Bình thường thời gian chờ đợi kéo dài khoảng 5 tuần (còn gọi là chu kỳ Nitrogen) Việc sử dụng máy lọc sinh học đúng cách sẽ tạo ra các vi khuẩn có lợi triệt tiêu chất độc amoniac nitrat. Nếu không hai chất dộc này sẽ tăng nhanh và cá trong hồ sẽ chết vào tuần thứ 3 hoặc tuần thứ 4. Dù rằng sau khi kiểm tra tỉ trọng muối và PH thì hồ cá vẫn chưa sẳn sàng tiếp nhận cá biển trừ khi phải thực hiện một cuộc kiểm tra khác quan trọng hơn đó là thử nitrat, đấy là dấu hiệu của chứng cứ amoniac và các hợp chất đạm khác xuất hiện. Nồng độ nitrat ban đầu sẽ cao nhưng từ từ sẽ hạ xuống khi lớp lọc đáy sinh học phát triển.

Một cách rút ngắn thời gian chờ đợi của phương pháp này là cấy lớp cát từ đáy sinh học của hột hồ cá khác đã hoạt động lâu rồi vào đáy hồ nuôi cá, đôi khi người ta thả loại cá năng động như cá rô biển nhằm thúc đẩy nhanh quá trình này. Khi mức nitrat giảm xuống và cân bằng ở mực thấp nhất hồ cá có thể được coi như sẳn sàng cho việc thả cá.

Thay nước
Trong thời gian lâu dài lớp vi khuẩn của máy lọc thải ra sẽ biến thành nitrat va amoniac trở lại, do đó một phương pháp duy trì môi trường nước trong sạch ít độc tố cũng như cặn bã là thay nước hồ cá thường xuyên từng phần khoảng 25% mỗi lần thay, chu kỳ thay khoảng 1-2 tuần. Điều quan trọng là phải thay nước cùng chất lượng và nhiệt độ như nước đã loại đi. Trước khi kết thúc quá trình thay nước là việc kiểm tra các thông số môi trường cho phù hợp.

Trong hồ cá biển, sự thất thoát nước do bốc hơi phải được bù đắp bằng nước ngọt lọc sẳn chứ không phải nước muối, vì muối không bị thất thoát do quá trình bay hơi.

Xuất khẩu cá cảnh vẫn nhiều khó khăn

Qua gần năm năm TPHCM thực hiện chương trình phát triển cá cảnh (nằm trong chương trình lồng ghép về phát triển cây và hoa, cá cảnh giai đoạn 2004-2010), chỉ 1/8 sản lượng cá cảnh đạt chuẩn xuất khẩu đi nước ngoài.

Khó khăn vì quy mô nhỏ lẻ

tintuc21

Dẫn một số liệu mới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TPHCM cho biết, xuất khẩu cá cảnh sang hai thị trường chính châu Âu và Mỹ trong 7 tháng đầu năm đạt hơn 6 triệu đô la Mỹ, tuy tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng vẫn là con số khá nhỏ.

Theo ông Phạm Lâm Chính Văn, Phó chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản TPHCM, so với nhiều nước xung quanh có điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển ngành cá cảnh tương tự Việt Nam như Thái Lan, Indonesia, có kim ngạch xuất khẩu cá cảnh hàng năm từ 50 – 70 triệu đô la Mỹ, thì kim ngạch xuất khẩu của TPHCM, nơi có nghề cá cảnh phát triển nhất Việt Nam, từ năm 2007 đến nay chỉ dao động từ 5 đến 7 triệu đô la.

Từ năm 2004, Ủy ban nhân dân TPHCM đã đưa cá cảnh vào chương trình mục tiêu phát triển cây, hoa kiểng và cá cảnh, tuy nhiên theo ông Văn, chương trình cũng chỉ mới dừng ở việc đưa ra một số hỗ trợ căn bản về vốn, kỹ thuật chăn nuôi… cho những cơ sở, cửa hàng quy mô nhỏ, chưa có những biện pháp thay đổi căn cơ, lâu dài.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, toàn thành phố hiện có gần 300 cơ sở, cửa hàng cá cảnh, phân bố rải rác tại các quận nội thành như quận 8, 9 và quận ven như quận 12, huyện Củ Chi…

Các cơ sở này chủ yếu làm ăn riêng lẻ, về đầu ra thì tự tìm nơi tiêu thụ, về cá nuôi, con giống thì thường tự sản xuất theo kinh nghiệm hay thu mua từ những trại cá giống và do vậy năng suất và chất lượng cá thấp, không có khả năng đáp ứng cho những đơn hàng từ nước ngoài thường yêu cầu số lượng lớn và chủng loại đa dạng.

Trong số 300 đơn vị sản xuất kinh doanh mặt hàng cá cảnh, chỉ có chừng 5 đến 6 đơn vị có khả năng và là đầu mối chuyên xuất khẩu cá cảnh với quy mô tương đối lớn. Nhưng những công ty này hiện cũng chưa phải là đã hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

tintuc22

Mới đây nhất là việc cơ quan kiểm dịch tại 2 thị trường xuất khẩu chính là Mỹ và EU đề ra một số yêu cầu khá ngặt nghèo đối với riêng mặt hàng cá chép và cá vàng của Việt Nam, hai loại cá có giá trị – chiếm hơn 30% giá trị xuất khẩu toàn ngành. Yêu cầu đó là cơ sở muốn xuất khẩu phải có “Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật”, do Cục Thú y cấp, gửi qua phía cơ quan kiểm dịch Mỹ, EU. Sau đó, đại diện cơ quan này sẽ yêu cầu cơ sở sản xuất tại Việt Nam thực hiện một quy trình nuôi giám sát dịch bệnh (đối với dòng virus mùa xuân (SVC) và virus gây mụn rộp (KHV)), áp dụng các tiêu chuẩn an toàn sinh học, chuồng trại, có giám sát trong vòng 2 năm. Sau đó, 2 loại cá này mới được nhập vào thị trường của họ.

Với lý do như trên, Công ty Hải Thanh của ông Lê Hữu Dũng hiện vẫn chưa thể xuất khẩu mặt hàng cá Koi (cá chép Nhật), lần đầu tiên được nuôi thương phẩm thành công tại Việt Nam, vào thị trường Mỹ và EU. Vì phải đợi đến năm 2010, tức sau một quá trình 2 năm tính từ lúc đăng ký cho đến khi được cấp giấy phép từ phía Mỹ và EU dưới sự giám sát chặt chẽ và liên tục của họ, công ty mới được xuất khẩu giống cá có giá trị thương phẩm cao này (cá Koi trưởng thành nặng từ 4 kí lô trở lên có giá trên 1.000 đô la Mỹ).

Hiện có Công ty Saigon Aquarium cùng hai cơ sở Võ Văn Sanh và Châu Tống được cấp giấy chứng nhận của Cục Thú y nhưng cho đến thời điểm tháng 8-2009 chưa có cơ sở nào xuất được cá chép và cá vàng, phần vì cá nuôi chưa đủ đáp ứng đơn hàng xuất khẩu số lượng lớn, phần vẫn còn luẩn quẩn với những quy định kể trên. Trong thời gian ”tắc” đường qua Mỹ và EU, các nhà quản lý Việt Nam khuyên các doanh nghiệp xuất khẩu nên nghiên cứu mở rộng ra thị trường các nước khác, ở châu Á, châu Mỹ…

Xây dựng vùng nuôi tập trung: đang chờ

Theo ông Phạm Lâm Chính Văn, để nghề nuôi cá cảnh phát triển đồng thời hướng đến mục tiêu xuất khẩu mạnh hơn thì cần phải thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh nhỏ hiện tại, hướng vào sản xuất tập trung và có chiều sâu.

tintuc23

Còn theo ông Nguyễn Văn Lãng, Chủ tịch Hội cá cảnh TPHCM, cũng như nhiều nhà nuôi cá cảnh lâu năm nhận định, thành phố cần quy hoạch các vùng sản xuất, vùng nguyên liệu, như xây dựng một vùng chuyên canh cá cảnh tại những quận, huyện còn có quỹ đất và điều kiện tự nhiên phù hợp, như Củ Chi, quận 8, quận 12… Điều này cũng được đề cập đến trong định hướng “Chương trình mục tiêu phát triển hoa, cây cảnh, cá cảnh TPHCM giai đoạn 2004-2010”.

Việc xây dựng vùng chuyên canh ngoài lợi ích về trao đổi thông tin khoa học kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh, xúc tiến thương mại, còn là nơi tập trung những nghệ nhân có tay nghề, những nhà nuôi làm nghề lâu năm và có khả năng đáp ứng được các yêu cầu xuất khẩu về tính đa dạng cũng như số lượng cá.

Ông Nguyễn Văn Lãng cũng cho biết, quy họach tỷ lệ 1/500 của dự án xây vùng nuôi tập trung rộng 300 héc ta của hội ở huyện Củ Chi với hàng chục trại cá lớn nhỏ là nơi được xem là thích hợp nhất cho nghề cá cảnh hiện nay, đã trình lên chờ UBND TPHCM thông qua.

Vùng chuyên canh là điều mà nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia… đã thực hiện từ rất lâu, nhờ vậy ngành cá cảnh của họ rất phát triển, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 50 – 70 triệu đô la Mỹ, trong khi tại TPHCM và trên cả nước, nơi mà nghề cá cảnh đã xuất hiện từ hàng thập kỷ, thì chỉ mới bắt đầu định hình.

Nguồn KinhteSaiGon

Các câu hỏi về Cá rồng

Trong nhưng năm theo đuổi thú đam mê về cá rồng, tôi đã có rất nhiều những câu hỏi, nghi vấn và khi đã tạm hiểu biết chút ít về giống loại cá này, thì tôi lại có được cái hân hạnh là đã cùng nhiều bạn chơi cùng thú đam mê trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm, cũng như nhận khá nhiều câu hỏi liên quan đến cá rồng . Tôi thấy những câu hỏi này là điều lý thú cũng như nhiều điều thắc mắc cho các bạn mới chơi … nên tôi sẻ lần lượt tóm gọn những thắc mắc mà tôi thường nhận đượcchung vào như tiều đề của bài viết để hầu các bạn thành viên đam mê cá rồng xa gần .

ca-rong-cuu-sung

1. Tôi mới mua cá rồng về được hơn tuần, bổng nhiên cá từ giả ra đi không kèn trống, không dấu hiệu chi cả ? Chuyện gì đã xảy ra và tại sao ?
Thông thường khi cá ra đi như thế này là vì quá trình nitrogen hóa để tạo cho vi sinh hửu ích có khả năng để tiêu thụ các độc tố chưa được hoàn tất . Các bạn nào lâm vào trường hợp này đã không kiển nhân đủ để chờ đợi . Vì thời gian hoàn tất chu kỳ nitrogen hóa này cần ít nhất khoảng 4-6 tuần nếu không có “nhân” của vi sinh hửu ích từ bể/hồ củ; và khoảng 10-15 ngày nếu xử dụng phương pháp cấy vi sinh từ các vật liệu lọc lọc đang được xử dụng .
Đồng thời các bạn đã không khử hoàn toàn thuốc sát trùng chlorine/chloramines trong nước . Đối với cá rồng còn bé và chưa từng quen với loại thuốc khử trùng này, thì đây là điều vô cùng tai hai và nguy hiêm cho tính mạng của con cá rồng các bạn mới rước về .

Nói tóm lại 2 yếu tố vừa đề cập :chu kỳ nitrogen hóa và sự độc hại của chlorine/chloramine là nguyên nhân đứng hàng thứ #2 có thể dẩn đến tử vong oan uổng cho cá rồng . Xin các bạn lưu ý là chu kỳ nitrogen hóa không thể nào hoàn tất trong 48-72 tiếng , cho dù ai có nói gì khác hơn , các bạn không nên vất tiền ra cửa sổ một cách vô tội vạ như thế . Chơi cá rồng là thú đam mê tập cho ta tánh kiên nhẩn, vì thú chơi này đòi hỏi thế . Rất mong các bạn không vội vàng đốt giai đoạn xem chừng không quan trọng này của trong những bước đầu chăm nuôi cá rồng .

2. Tại sao cá rồng của tôi hay nhảy phóng vọt lên trên ra khỏi mặt nước ? Chúng phóng rất mạnh có thể ảnh hưởng chi đến sức khỏe của chúng hay không ? Khi phóng vọt như thế chúng thường rơi rụng đi vài cái vẩy … Chúng sẻ mọc lại hay không ?

Câu trả lời luôn nằm trong khuôn khổ xin đừng đợi “mất trâu rồi mới nghĩ đến việc rào chuồng” ! Cá rồng không nhảy thì không phải là cá rồng, và đã rất nhiều người chơi cá rồng bị thất thoát vì cá rồng phóng vọt ra khỏi hồ . Đây là nguyên nhân số #1 đưa đến thương vong cho cá rồng ( cá rồng không chết vì bệnh tật nhiều bằng chết vì kiểu kamazaki tự sát này) . Vì thế nấp đậy bên trên cần phải đủ nặng và kín là điều tối cần thiết . Không nên để một kẻ hở nào vì chúng tìm ra kẻ hở rất tài tình .

Thứ đến tại sao cá rồng phóng vọt ra ngoài ? Chúng phóng vọt ra ngoài có vài nguyên nhân .

a. Nguyên nhân đầu tiên là vì chúng nghĩ bên trên đang có thức ăn, mà trong thiên nhiên thì đây là cách cá rồng săn bắt côn trùng trên các cành cây, lau sậy quanh quan nơi chúng sinh sống . Trong môi trường nuôi nhân tạo, thì chúng vẩn còn lưu giữ bản tính tự nhiên này .

b. Nguyên nhân thứ hai là phẩm chất của nước trong hồ đã trở nên quá xấu, là nguồn tạo cho cá rồng sự khó chịu . Một trong những lý do của phần này là khi độ pH quá cao hay quá thấp ngoài khả năng chịu đựng của cá rồng , hoặc trong nước có quá nhiều độc tố vô hình mà tôi đã nhiều lần đề cập…. sẻ dẩn đưa chúng đến phản xạ tư, nhiên này là vượt thoát .

c. Khi cá rồng bị stress trầm trọng thì nguyên nhân có thể bắt nguồn bởi từ nhiều lý do như : trong hồ có một con cá khác rất côn đồ luôn truy kích em nó , nhiều di động bên ngoài hồ của bọn con trẻ, bể được đặt để nơi có nhiều sự qua lại đông đúc mà cá rồng của bạn chưa thích nghi được, hay cá bị kích động bỏi vì những tư thế thay đổi vị trí bất thình lình của những di động bên ngoài bể hồ cá .

Cá rồng trong lúc chúng đang bơi sát mặt nước là lúc mà chúng dể bị kích thích nhất . Trong vị trí bơi lội này, cá rồng nhận biết được chúng rất dể bị săn hoặc rượt bắt , mặc dù đây là vị trí mà cá rồng thường lai vảng khoảng 60% thời gian . Vì thế khi đang trong tình huống như thế này, cá rông luôn đề cao cảnh giác và vì thế bất cứ những gì di chuyển mà chúng cảm nhận (cho dù đúng hay sai) là có thể bất lợi cho chúng, thì lập tức chúng triệt để thực thi kế sách “tam thập lục kế, đào vi tẩu thượng sách”, và dĩ nhiên là chúng thăng thiên ngay . .

Bạn nào không tin hoặc chưa thấy cứ thử đang ngồi , và canh lúc cá rồng của bạn đang bơi tại mặt nước của bề hồ và bất chợt đứng dậy bất thình lình như đang phóng bắt về hướng của chúng, nhất là từ vị trí phía sau … thì sẻ chẳng chóng thì chày sẻ được thấy cá rồng của bạn nó “thăng thiên” như thế nào . Trong trường hợp cá rồng đang bơi khoảng nữa mặt nước hay sat đáy, bạn có phóng vọt, nhảy làm gì chi chi đi nữa, cá rồng của bạn sẻ vẩn bình chân như vại, và không hề phản ứng . Lý do tại sao có sự khác biệt trong hai hoàn cảnh gần như tương tự nhau là vì khi bơi giữa dòng nước hoặc sát đáy, cá rồng cảm nhận được yếu tố an toàn được bảo bọc bởi chiều sâu của nước …. nên chúng sẻ phản ứng theo bản năng tự nhiên là cứ phây phây ra mà không phản ứng chi cả . Hy vọng khi đọc đến đây, các bạn sẻ hiểu được một vài bản tính cũng như phản xạ tự nhiên thông thường của cá rồng trong các hoàn cảnh không an toàn và an toàn như thế nào .

d. Cá tính của con cá rồng mà bạn đang sở hửu cầm tinh con thỏ chứ không là rồng . Cho dù không có sự cố gì đi nữa, chúng vẩn nhảy nhót linh tinh . Những con cá rồng với cá tính như thế này, sau khi 3 nguyên nhân a, b và c được đề cập trên đã được loại ra .. theo quan điểm cá nhân của tôi thì ta không nên phí thì giờ nuôi mà nên tìm cách đây em nó đi … Vì những con cá như thế này trước sau gì cũng chết yểu vì cá tính nhảy nhót của nó . Lý do tại sao chúng thường sẻ chết yểu, xin các bạn đọc phần trả lời bên dưới .

Khi phóng vọt linh tinh, thường cá rồng sẻ bị bầm, dập vêu môi, đứt râu,tróc da đầu, bong vẩy trong các trường hợp nhẹ và sẻ không ảnh hưởng chi đến sức khỏe của cá ngoài vấn đề thẩm mỷ . Đứt râu trong tình trạng phẩm chất nước tốt, râu sẻ mọc lại đều và thẳng như trước ( khác với những gì các bạn đã đọc là râu sẻ mọc lại không đều, vì đây là nhận đinh tuy không sai, nhưng chỉ có tính cách tạm thời vì râu bị rụng của cá rồng chưa có đủ thời gian để phát triển và mọc lại như trước . Đây là lý do tại sao đã có một số nhận xét mà tôi tin là các bạn đã được đọc thấy rải rác trên các diển đàn cá rồng ) . Các bạn thử nghĩ xem một khi râu lành lặn , và râu còn lại bị đứt đi đang mọc trở lại được so sánh với nhau, tất nhiên trong thời gian trước khi hoàn chỉnh lại như trước, dĩ nhiên sợi râu đã bị đứt phải nhìn nhỏ, không đều và không thể nào bằng được như trước chứ ! Râu bị đứt của cá rồng, nếu không đứt tận gốc (là một điều vô cùng hiếm để xảy ra) thì ta nên kiên nhẩn và cần chờ đợi trong thời gian khoảng 6-9 tháng để râu mọc lại lành lặn tương đương như trước .

Vêu môi, tróc da đầu trong điều kiện nước tốt, sẻ lành lại trong 2- 4 tuần .

Trong tình trạng bong, rơi rụng vẩy trên cơ thể , thì cá rồng của bạn cần ít nhất la 5-6 tháng để vẩy mới có thể có được màu sắc tương tự trở lại như trước trong tình trạng phẩm chất nước tốt, chư không như tôi đã từng được đọc đâu đó là sau 3 tuần vẩy sẻ mọc lại như trước .

Đối với những con cá bị nhát hơn thỏ, mà tôi đã đề cập trong phần d bên trên, những con này vì cá tính của chúng, nên khi chúng phóng vọt thường rất mạnh và quá kích, thay vì chỉ là phản xạ bình thường . Chính vì điểm này, sự rủi ro và sắc xuất đưa đến tình trạng bị gảy xương sống do sự va chạm quá mạnh sẻ vì thế mà gia tăng rất nhiều . Tôi đề cập chúng có tỷ lệ chết yểu cao hơn vì lý do bị chấn thương cột xương sống . Và đây là lý do tại sao khi nhân thấy được một con cá rồng quá nhát, và thường xuyên nhảy, ta nên loại bỏ nó ngay để tránh tổn thất về sau trong vấn đề tài chánh, công sức và thời gian chăm sóc .

3. Cá rồng của tôi hung dữ quá, có cách chi làm cho chúng bớt hung hăn lại không? Có thể nuôi chung cá rồng với nhau hay không, và bằng cách nào để sự ấu đả giữa cá rồng nuôi chung được giảm thiểu ?

Câu trả lời là sẻ là bạn chẳng có cách chi để thay đổi cá tính hung dữ này của cá rồng, vì bản chất của chúng là cá săn mồi . Tuy môi trường chung quanh dể làm cho chúng rất kích động, nhất là khi chúng đang trong tư thế bơi lội sát mặt nước (lý do tại sao như thế, thì tôi đã đề cập trong phần trả lời của câu hỏi thứ 2 bên trên), nên đã có người nói là chúng rất nhát . Tình thật mà nói thì chúng chỉ “nhát” trong những trường hợp như thế và đối với những con có cá tính quá sợ sệt vô cớ .

Ngoài yếu tố “nhát” vừa đề cập trên, cá rồng quả thật không nhát tí nào mà là hung thần cho các con cá rồng đồng loại, và nhất là cho những sinh vật nào có kích thước vừa với cái miệng của chúng . Ta sẻ không làm sao thay đổi được bản tính thiên phú này … Thay vì tìm cách thay đổi cá tính của chúng, ta hảy tìm hiểu về cá tính này và áp dụng thích nghi để phần nào thay đổi được tình hình trong bể hồ cộng đồng .

Cá rồng khi được cho ăn các loại thức ăn khô trong một thời gian dài, có khả năng giảm bớt cá tính hung hăn bọ xít , nhưng xin lưu ý là chỉ trong một phần nào đó mà thôi, chứ không giảm hẳn 100% . Vì thế nếu tập cho cá rồng “ăn chay” được thì đây là điều ta có thể làm .

Cá rồng rất có thể nuôi chung với nhau nếu các bạn thông hiểu được cá tính của chúng . Và cá tính đặc biệt này thường được thể hiện rất rỏ ràng trong việc “kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu” . Con nào yếu nhất trong hồ sẻ là con bị tấn công liên tục và bị truy kích nhiều nhất bởi những con cá rồng khác . Đây là điểm quan trọng!, vì nếu hiểu được cá tính này và cách chúng bắt nạt nhau, bạn có thể tạo điều kiện và tạo mục tiêu cho những con cá rồng của bạn phát tiết . . Đối với các bạn không đủ khả năng tài chánh hay khoảng không gian để có bể hồ rộng rải để chứa đựng trên 5 con cá rồng mà vẩn nuôi cá rồng chung, thì các bạn làm như sau : chọn một hay hai con cá giống loại khác với kích thước tương đương vói những con cá rồng khác trong hồ cộng đồng để không bị ăn thịt, với cá tính hiền và bơi nhanh như cá phượng hoàng (phoenix) . Con cá này sẻ là “con vật tế thần”, được nuôi chung để trở thành mục tiêu cho cá rồng phát tiết . Nó đủ lớn để chịu đựng được các đòn thù, đủ tốc độ bơi nhanh để tránh và đủ hiền để không trả đủa/trả đòn . Điểm cuối cùng này quan trọng, vì khi cá rồng bị trả đòn, chúng sẻ tìm mục tiêu khác . Cá tính của cá rồng mà tôi vừa đề cập bên trên là chúng sẻ tấn công con yếu nhất, nên ta lợi dụng cái cá tính này để cho chúng phát tiết , thay vì để chúng ấu đả lẩn nhau . Khi hiểu được yếu tố này, thì các bạn sẻ có cơ may nuôi chung cá rồng dưới 5 con, mà sự rủi ro trong các cuộc ấu đả sẻ giảm thiểu đi rất nhiều

4. Sau khi cá rồng được di chuyển qua hồ mới, nó đã bỏ ăn hơn 2 tuần cho dù được cho ăn những món ăn khoái khẩu thường ngày của nó ?

Bạn chẳng cần phải quan tâm, vì đây là chuyện bình thường . Cá rồng thích được sống trong môi trường ít thay đổi, càng ổn định càng tốt , vì thế khi phải thuyên chuyển là chuyện chẳng đặng đừng . Một khi môi trường sống hằng ngày của chúng đổi thay, thì cá rồng sẻ bỏ ăn . Thông thường chúng sẻ bỏ ăn khoảng 2-3 tuần trước khi ăn trở lại . Trong các trường hợp hiếm hoi, đã có những con cá rồng sẻ bỏ ăn từ 3-4 tháng mà không hề hấn gì . Các bạn chỉ cần lưu tâm theo dỏi những biểu hiện bất thường nếu nó trong tư thế bơi lội của chúng . Nếu bơi lội bình thường, khỏe mạnh, bạn cứ cho nó kiêng ăn cho đến bao giờ chúng thích ăn trở lại . Nhớ trong giai đoạn này, phân thay nước đinh kỳ vẩn phải tuân thủ, và thức ăn được cho ăn trong thời gian này, nếu cá chưa chịu ăn lại nên vớt ra ngay .

Đây cũng là thời gian mà các bạn cho dù mói chơi hay đã chơi lâu sẻ mất kiên nhẩn, vì lo cho sự an nguy của cá , nên cho chúng ăn những loại thức ăn có tính chất nghiện như superworms, gián/dế, rít, trùn đất v.v…. để ngỏ hầu có thể kích cá ăn trở lại . Mặc dầu đây là sự suy nghĩ không sai trong ý tưởng, nhưng khi thực hành … thì các bạn đang tập cho cá hư và ỏng ẹo . Nếu trước đó thức ăn chính hằng ngày là tôm đông lạnh, hay thúc ăn khô … thì không có lý gì chúng sẻ không chịu ăn các loại thực ăn này khi cá rồng đã ổn định và thích nghi với môi trường sống mới . Xin đừng để tình trạng cá rồng các bạn bỏ ăn ảnh hưởng đến việc các bạn sẻ tạo cho chúng trở nên kén ăn , hư hỏng và làm trời với các bạn

5. Cách đây vài tuần tôi có nhận một câu hỏi rất hay, mà ít ai để ý đến trong quá trinh nuôi dưỡng cá rồng . Câu hỏi như sau :
…. Cá rồng của em sao tư nhiên nổi những đường vết như chảy máu trên cơ thể ….?

Câu trả lời cho câu hỏi này nằm trong phạm vi thiếu các chất vitamins cần thiết trong thức ăn của cá . Mà điển hình là thiếu chất Vitamin C . Khi cá rồng chỉ cho ăn một loại thức ăn duy nhất qua một thời gian khá dài, cá sẻ có nhiều cơ hội bị thiếu vitamin C . Vitamin C rất dể bị mất đi các chức năng của nó vì cấu trúc của công thức hóa học của nó và rất dể bị hủy đi . Một đặc tính khác của vitamin C là nó rất dể hòa tan trong nước, nên sẻ mất đi khá nhiều hiệu năng khi thức ăn được thấm vào nước . Đây là điều không thể tránh được ,vì trong hồ cá rồng toàn những là nước

Cá khi bi thiếu chất vitamin C sẻ rất dể bị chảy máu, mà khó cầm máu bên trong cơ thể khi có những va chạm mạnh, và đó là lý do tại sao cá rồng của bạn đặc câu hỏi trên có những dấu hiệu như chảy máu trên cơ thể . Ngoài ra nếu tình trạng cơ thể cá rồng thiếu hụ vitamin C dể đưa đến việc lâu lành các vết thương, vây của cá thường bị rất dể bị tơi tả, rơi rụng và bộ phân xương của cá sẻ có những di dạng bất thường như cong , không ngay thẳng bất bình thường .

Phương cách khác phục : luôn đa dạng hóa thức ăn, không nên cho cá rồng ăn chỉ một loại thức ăn duy nhất . Với kỷ nghệ bào chế thức ăn khô rất tinh vi ngày hôm nay, chất vitamin C cũng như các loại vitamins khác như vitamin A và vitamin E đều hiện diện trong các thành phần của thức ăn khô, dươi dạng khó phân hóa trong nước hơn . Nếu cá rồng của các bạn ăn được thức ăn khô, thì đây là điều vô cùng bổ ích . Xin lưu ý là khi chọn các loại thức ăn khô, xin đừng tiết kiệm mua những loại thức ăn khô không tên tuổi . Các bạn đã chơi được đến cá rồng, thì thức ăn của bọn chúng cũng nên tương xứng .

Tuy nhiên , tôi biết đối vơi rất nhiều các bạn, là cá rồng của các bạn chẳng ăn thức ăn khô … Nếu vậy thì ta phải làm sao ? Rất đơn giản, trươc khi thay nước vài ngày, các bạn trươc sau gì cũng phải chuẩn bị nước . Chất vitamin C ngoài những chức năng cần thiết mà tôi vừa đề cập, còn có một khả năng rất đặc biệt mà tôi đã có lần nhắc thoáng qua trong một vài bài viết trước đây . Vitamin C có khả năng khử chất chlorine/chloramine trong nước . Các bạn còn chần chơ chi nửa, khi chuẩn bị thay nước, bổ một quả cam, ngâm nó vào nước đang chuẩn bị để được thay . Chất vitamin C từ trong quả cam sẻ khử chất chlorine/chloramine và đồng thời sẻ là nguồn vitamin C cân thiết cho cá rồng của các bạn khi nguồn nước mới này được cho vào hồ . Đây là điều tôi luôn làm vài ngày trước khi thay nước . Tiện lợi, dể dàng và hửu dụng vô cùng, các bạn hảy thử xem sao nhé .

6. Cá rồng huyết long có bao nhiêu loại ? Super red, chili red, blood red, violet fusion, emperor red, ultra red, munjul red, purple red, fire red, v.v.. có phải là những loại huyết long khác nhau không ?

Câu hỏi này tôi đã trả lời rất nhiều lần, những vẩn thường được nhận những câu hỏi như thế này, nên có lẻ đây là thắc mắc thông thường cho nhiều người mới chơi hay lâu năm . Tôi đã thấy rất nhiêu bạn trên các diển đàn đã có những nhận định rất sai lầm về giống huyết long này .

Câu trả lời là chỉ có một loại huyết long, và chỉ duy nhất một loại mà thôi, và đó là huyết long loại I (first grade super red) . Huyết long loại I này bao gồm hoàn toàn tất cả những tên gọi về giống cá huyết long mà các bạn đã được nghe tên qua, hoạc chưa nghe tên, và chắc chắn sẻ có nhiều tên mỷ miều, thật kêu khác … sẻ được cho ra đời, nhưng xin các bạn đừng nhầm lẩn vì các tên goi … chúng chỉ đơn giản là huyết long loại I , vì đến cả những người chơi cá lâu năm, và cả những người đanh kinh doanh về cá rồng tại quê nhà đã nhầm lẩn .

Tất cả các tên gọi đã được đặt cho huyết long, hay sẻ được gán cho nó, chỉ là thương hiệu mà thôi , chứ không phải là một loại huyết long khác .

Dỉ nhiên trong dòng huyết long, cũng có những con đẹp con xấu, và những con đã được tuyển lựa kỷ càng bởi các trại cá rồng chuyên trị huyết long danh tiếng thì sẻ có những cái tên “danh chấn giang hồ” …. nhưng không vì chúng đẹp hơn về phẩm chất và màu sắc, cũng như giá tiền …. mà chúng là loại khác … Chúng đều là huyết long loại I cả .

7. Dạo gần đây tôi nhận được khá nhiều câu hỏi vê việc nuôi cá rồng có cần hệ thống lọc hay không? Nên tôi chọn để nó vào đây để các bạn rõ ràng và chính xác không sai chạy vao đâu được nhá

Câu trả lời của tôi sẻ hỏi ngược lại các bạn nào đang có thắc mắc về vấn đề này … là các bạn có muốn cá rồng của các bạn phát triển hết tiềm năng hay không về vóc dáng, màu sắc cũng như là sức khỏe hay không ?

Xin đừng tin hoặc nghe bất cứ ai nếu họ nói cá rồng của họ sống không cần hệ thống lọc . Vì có một điều các bạn sẻ nhận ra được rằng là cá rồng sống trong hô không có hệ thông lọc, cá sẻ luôn có vấn đề . Cá của những người thường là sẻ bị bệnh, không bị cái này, thì cũng bị cái khác . Nói tóm lại là cá rồng của họ tuy vẩn sống, nhưng không bao giờ đẹp .

Cá rồng đang đẹp thì sẻ rớt đẳng cấp, mà cá đã dưới trung bình thì sẻ tuột luôn . Các bạn chỉ cần hỏi các bạn một câu đơn giản là thị truòng hệ thống lọc nước cho các hồ cá đang phát triển như thế nào, và lợi nhuận bao nhiêu . Và các hệ thống lọc đã trải qua các thời kỳ canh tân, thay đổi khởi đầu từ những hệ thống lọc đơn gian và thô sơ cách đây khoảng 40 nam là hệ thông lọc đáy cho đến loại đang được thông dụng nhất là hệ thống wet/dry filtration . Nếu quả thật hồ cá không cân hệ thống lọc … thì thi trường này không phát triển mạnh mẻ như thế .

Cách chọn cá Lia Thia đá tốt

Như thế nào là dạng cá đá tốt nhất? Dạng cá đá tốt nhất là dạng tổng hợp của cả ba dạng kể trên. Điều đó có nghĩa con cá tốt nhất phải có thân tròn như bản lóc. Nó cũng phải có cái cổ và thân dày như bản rô và bơi nhanh như bản thát lát. Nhìn chung, cấu trúc cơ thể phải cân đối. Kích thước của đầu và gốc đuôi phải có tỷ lệ thích hợp. Mỗi bộ phận cơ thể không được quá to hay quá nhỏ. Chiều dài phần đầu bằng khoảng 1/3 chiều dài thân vì vậy con cá trông không quá dài hay quá ngắn. Cá quá dài hay quá ngắn làm cho chuyển động của nó mất cân bằng.

Con cá ở trên có hình dạng tổng hợp của cả ba dạng cá đá điển hình với cấu trúc cơ thể cân đối. Nó có vây to, đầu và thân dày với cái miệng của dạng bản lóc. Nó phải to xương có nghĩa vẫn giữ nguyên hình dạng khi được ngâm trong nước lá bàng khô trong vòng một tháng. Tuy nhiên, cá có hình dạng hoàn hảo không có nghĩa là nó chắc chắn sẽ là kẻ chiến thắng trong các cuộc đấu. Nó chỉ đơn giản có nhiều lợi thế hơn để chiến thắng đối thủ mà thôi.

ĐÁNH GIÁ CÁ

Mục đích của việc đánh giá cá là kiểm tra về mức độ phù hợp của con cá trước khi đem huấn luyện rồi sau đó là đi thi đấu. Có hai bước đánh giá cần được thực hiện: 1-đánh giá về sinh lý để biết được mức độ trưởng thành của con cá và đảm bảo cá không bị khuyết tật. 2-đánh giá về tâm lý để biết được mức độ bạo dạn của con cá.

Đánh giá sinh lý: độ trưởng thành của con cá là điều đầu tiên cần phải cân nhắc đến trước khi đem cá đi huấn luyện. Những bộ phận sau đây của cá cần được lần lượt kiểm tra gồm: Miệng-Nắp mang-Mắt-Kỳ-Vảy-Thịt và Cấu trúc tổng quát toàn thân.

Miệng: được coi là bộ phận quan trọng bậc nhất của cá đá bởi vì nó được dùng như là vũ khí tấn công đối thủ. Nếu miệng có vấn đề thì cá khó thắng trận được. Mỗi khi cá tấn công và làm tổn thương đối thủ thì cũng đồng nghĩa với việc nó tự làm miệng của mình bị thương. Hơn nữa, miệng ăn thông với mũi do đó nếu miệng bị thương nặng thì thường dẫn tới việc cá bị sặc nước và thua trận. Vì vậy mà chúng ta thường thấy cá chỉ giả vờ tấn công rồi sau đó quay về trạng thái phòng thủ. Sau đây là những dạng miệng khiếm khuyết mà chúng ta không nên chọn cá có miệng như vậy để đem đi đá:

– Miệng bị biến dạng
– Miệng không khép kín
– Môi sứt
– Miệng khoằm hay vểnh
– Miệng phù
– Miệng sần sùi

Con cá này có miệng không khép kín, môi trên cũng trề ra và méo mó. Cá có miệng tốt phải khép kín và hơi gồ lên một chút.

Mang và nắp mang: là bộ phận cung cấp không khí để cá thở. Một chức năng quan trọng khác của nắp mang là phùng lên để đe dọa đối thủ. Nó là dấu hiệu để phô trương sức mạnh. Theo luật lệ trường đấu, con cá nào có thể phùng hết mang được xem là có ưu thế hơn hơn dù cho nó bị thương nặng hơn. Do đó, con cá bị thương nhẹ hơn nhưng không thể phùng mang có thể bị xem là thua trận. Nếu mang có vấn đề, con cá không thể chịu đựng được lâu và dễ bỏ chạy. Nắp mang phải nằm gọn gàng và đúng vị trí. Bề mặt nắp mang phải trơn láng. Nó có thể đóng mở dễ dàng và không được vướng víu. Các nếp mang được coi là phần yếu nhất ở con cá và phải được xếp gọn gàng phía dưới nắp mang. Nếu nó bị lòi ra thì có thể bị đối phương cắn đứt. Trong điều kiện bình thường, mang chuyển động phập phùng một cách nhẹ nhàng khi cá thở vì vậy nếu nó chuyển động một cách gấp gáp thì chứng tỏ con cá đó có vấn đề bất thường về hệ thống hô hấp. Không nên đem con cá như vậy đi đá. Sau đây là một số dạng mang bị khiếm khuyết:

– Mang bị biến dạng
– Mang không khép kín
– Mang không thể phùng ra hết cỡ
– Nếp mang lòi ra.

Con cá này có nắp mang hở. Điều này đồng nghĩa với việc cho phép đối thủ tấn công vào các nếp mang, phần nhạy cảm nhất của con cá.

Mắt: là bộ phận dẫn đường. Nếu mắt có vấn đề thì cá không thể trông thấy địch thủ một cách rõ ràng. Cá sẽ đá chậm lại ngay lập tức nếu mắt bị thương. Một vài con thậm chí còn bỏ chạy khi mắt bị thương. Mắt cá không được mờ và phải nằm ở vị trí thích hợp. Chúng ta có thể kiểm tra độ nhạy của mắt cá bằng cách di chuyển vật sậm màu như đầu bút chì gần lọ cá. Hầu hết những con cá mạnh khỏe đều trở nên linh động, tiến lại gần đầu bút chì và bắt đầu phùng mang giương vây.

Kỳ: được xem như là chân của con cá. Nó được sử dụng để điều khiển và hỗ trợ cho chuyển động của cá. Vì vậy, nếu con cá có kỳ quá ngắn thì sẽ di chuyển không mau lẹ bằng đối thủ. Kỳ cũng phải nằm đúng vị trí thích hợp. Nó phải chuyển động chắc chắn và mạnh mẽ. Kỳ không được cũn cỡn và phải khép sát vào thân.

Vảy: là áo giáp của cá và được bao phủ bởi lớp nhớt. Có hai loại vảy, loại lớn và loại nhỏ. Cả hai đều có đặc điểm riêng. Loại vảy lớn rất khó tróc nhưng một khi bị tróc rồi thì những vảy bên cạnh cũng dễ bị tróc theo. Loại vảy nhỏ dễ bị tróc hơn nhưng các vảy bên cạnh lại không bị ảnh hưởng nhiều. Dù cho là loại vảy gì thì nó cũng phải được sắp xếp một cách đều đặn. Các vảy phải xếp sát vào nhau và trông gọn gàng. Màu vảy phải càng đậm càng tốt vì điều này cho thấy nhớt cá ở tình trạng tốt.

Thịt: là gốc của vảy và giúp vảy được rắn chắc. Vì vậy, nếu cá có thịt chắc và nhiều cơ bắp thì vảy cũng rất chắc. Cá có thịt chắc sẽ rất khó bị thương hoặc vết thương không lan quá rộng và nhờ đó cá không mất quá nhiều máu. Cơ bắp rắn chắc được kết hợp bởi nhiều yếu tố như di truyền, môi trường nuôi dưỡng, thức ăn, dạng cá, độ tuổi và sự huấn luyện. Cá cùng bầy nhưng được huấn luyện bởi những người chủ khác nhau có thể có chất lượng khác nhau, kể cả về dạng cấu trúc cơ thể. Điều này lý giải tại sao hầu hết những con cá đá bậc nhất đều xuất phát từ các cao thủ huấn luyện cá. Chúng ta không thể thấy một con cá có thịt tốt thế nào nếu như chúng ta không đem chúng đi đá với con khác có cùng đẳng cấp. Thịt tốt có nghĩa vết thương mà nó nhận phải không lan rộng và trở nên trầm trọng hơn khi bị đối thủ cắn lủng lớp vảy. Hơn nữa, nó phải có khả năng phục hồi thật nhanh sau trận đấu.

Cấu trúc tổng quát toàn thân: phải được cân đối. Tất cả các bộ phận bên ngoài phải mạnh mẽ và cân xứng. Thân không được quá dài hay quá ngắn vì có thể làm cho cá bơi chậm và khó xoay trở khi bị đối thủ áp sát.

Đây là một ví dụ về cá có cấu trúc cơ thể không tốt, được biết như là dạng thân cá mè. Cá trông rất lớn bởi vì thân dẹp và nhiều thịt nhưng lại rất yếu ớt. Nó là mục tiêu to lớn dễ bị tấn công. Dạng mặt nhỏ và cong cũng như mõm nhọn là nhược điểm và dễ dàng bị rách chỉ sau một vài cú câu mõm. Cũng dễ nhận thấy dạng đầu này rất dễ bị sặc nước bởi vì xương mặt không được hỗ trợ bởi những xương hàm lớn.

Cá Đuôi Ga – Acanthururs leucosternon

Loài cá có màu sắc ổn định không thay đổi, có nhiều ở quần đảo Hoàng sa. Loài cá này hoạt động tích cực nên cần bể rộng rãi, co đấy dủ thức ăn xanh hằng ngày. Nếu bể nuôi có 2 con chúng sẽ cắn nhau.

Kích thước : 25 cm

Nguồn gốc : Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương

Thuần hóa : khá khó

Thức ăn : rong tảo, thực vật, thức ăn đông lạnh, thức ăn dạng hạt

Bể nuôi : chung

Mực nước sống : ở tất cả các tầng nước

Bèo Tai Chuột

Bèo tai chuột lớn có tên khoa học Salvinia molesta D.S. Mitchell, họ Salviniaceae, tên tiếng Anh là giant water fern, hay giant salvinia). Đây là loài khuyết thực vật thủy sinh có nguồn gốc ở Nam Mỹ (nam Brazil đến bắc Argentina), thích nghi với khí hậu nóng ẩm của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.

Bèo tai chuột lớn sống ở nước ngọt, nổi trên mặt nước, thường mọc ở môi trường nước tĩnh hoặc chảy chậm trong các ruộng lúa, ao, hồ, đầm lầy, kênh mương và sông rạch nhỏ. Ngoài tự nhiên, chúng lan tràn từ nơi này sang nơi khác chủ yếu qua dòng nước, ngoài ra còn bám vào các phương tiện vận tải thủy. Bèo tai chuột lớn cũng hay được sử dụng trong các hồ thủy cảnh và việc buôn bán sinh vật cảnh là một trong những con đường lan truyền quan trọng.

Bèo tai chuột lớn có tốc độ mọc rất nhanh, hình thành nên những thảm dày, có khi đến 60 cm, che phủ hoàn toàn mặt nước. Lớp thảm đó có tác dụng ngăn cản ánh sáng và làm giảm sự xâm nhập của ôxy vào môi trường nước. Chúng có khả năng tạo ra một lượng sinh khối tươi rất lớn, đến 400 tấn/ha. Sự phân hủy lượng sinh khối này làm hàm lượng ôxy hòa tan trong nước tiếp tục suy giảm, tạo nên một môi trường bất lợi cho phần lớn các thủy sinh vật.

Sự xâm lấn của bèo tai chuột lớn vào các thủy vực tự nhiên và nhân tạo có thể gây thiệt hại lớn về kinh tế. Chúng có khả năng làm tắc nghẽn các kênh cấp thoát nước, các cửa lấy nước của công trình thủy lợi, hạn chế giao thông thủy, làm giảm lượng thủy sản và gây khó khăn cho việc đánh bắt. Lớp thảm dày còn tạo điều kiện cho sự gia tăng các bệnh truyền qua môi trường nước như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não.

Khảo sát thực địa trên cả nước trong các năm qua chưa ghi nhận sự hiện diện của bèo tai chuột lớn trong các thủy vực tự nhiên ở Việt Nam. Cơ sở dữ liệu toàn cầu mới nhất về sinh vật ngoại lai xâm hại (phiên bản tháng 7/2006) cũng không ghi nhận loài này có mặt tại Việt Nam. Tuy nhiên, mới đây, bèo tai chuột lớn đã xuất hiện trong một số vườn thủy cảnh ở TP HCM.

Giám đốc một công ty thiết kế sân vườn nổi tiếng ở TP HCM cho biết loài này đã được sử dụng trong các hồ thủy cảnh một vài năm nay. Kỹ thuật viên của công ty cũng cho biết bèo tai chuột lớn được công ty ươm nuôi trong các lu vại để sử dụng cho các công trình và phải thường xuyên vớt bỏ đi vì tốc độ mọc quá nhanh.

Một khi đã có mặt trong các hồ thủy cảnh, không sớm thì muộn bèo tai chuột lớn sẽ thoát ra ngoài tự nhiên. Do đây là một loài có khả năng xâm hại rất lớn nên Việt Nam phải sớm áp dụng những biện pháp cần thiết để hạn chế sự lan tràn của chúng. Trước tiên, những người kinh doanh và thưởng thức thủy cảnh không nên sử dụng loài này trong các hồ thủy cảnh; nếu bỏ chúng đi thì phải tiêu hủy (cho vào túi nylon hoặc chôn lấp.

Đối với các khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước trong môi trường nước ngọt (ví dụ Tràm Chim, Láng Sen, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Cát Tiên, Lò Gò Xa Mát) và ban quản lý các hồ chứa nước, việc lưu ý đến sự xuất hiện của bèo tai chuột lớn càng trở nên quan trọng.

Một khi bèo tai chuột lớn đã lan tràn ở mức độ rộng thì biện pháp phòng trừ sinh học được xem là rất có hiệu quả. Nghiên cứu ở Australia cho thấy loài mọt Cyrtobagous salviniae có khả năng diệt trừ bèo tai chuột lớn rất hữu hiệu. Loài côn trùng nhỏ này đục vào thân ngầm và đi lần lên ăn đọt non, nhanh chóng làm giảm quần thể bèo tai chuột lớn.