Những loài cá lạ trên vùng biển Bắc Cực

Nhiệt độ đại dương tăng đã kéo những loài cá xa lạ đến biển Bắc cực; đánh bắt cá biển sâu cũng là nguyên nhân khiến nhiều “gương mặt” mới lạ được biết đến tại đây.

1. Quái vật ngoài hành tinh

Giống như sinh vật ngoài hành tinh, con cá tì bà đầu dài xấu xí này là một loài xa lạ đối với vùng biển Greenland. Con cá dài 17cm này là 1 trong 38 loài cá lần đầu phát hiện gần đảo Bắc cực, theo nghiên cứu gần đây của nhà sinh vật Peter Moller thuộc Bảo tàng lịch sử tự nhiên Đan Mạch ở Copenhagen. Đã có tất cả 38 loài được phát hiện trong cuộc nghiên cứu kéo dài kể từ năm 1992; trong số này có 10 loài ở Greenland cũng hoàn toàn mới đối với khoa học.

2. Cá mập mèo

Loài cá mập mèo là một trong số vài loài cá mập được phát hiện lần đầu ở biển Greenland. Loài cá mập nhỏ này từng được phát hiện ở những đại dương khác ở độ sâu từ 800m đến 1410m. Chúng ăn cá, sâu biển và các loài giáp xác như tôm cua. Những phát hiện gần đây về các loài sống ở sâu như cá mập mèo có thể do sự gia tăng của việc đánh bắt sâu, kết quả là khá nhiều “thủy quái” biển sâu bị tóm.

3. Cá tì bà cái

Những con cá có vảy kì cục được kéo lên từ biển Greenland từ năm 1992 gồm có loài cá đá bóng Đại Tây Dương – một loại cá tì bà nhử mồi bằng cách lúc lắc miếng mồi béo bở của nó.

Cá đá bóng Đại Tây Dương thuộc nhóm cá tì bà, những con đực bám dính trên cơ thể con cái lớn hơn nó rất nhiều như một kẻ ăn bám. Nó được con cái nuôi dưỡng cho đến khi trứng được thụ tinh. Peter Moller cho biết sự bắt gặp các loài cá biển sâu gần đây liên quan đến sự gia tăng hoạt động đánh bắt bằng những con tàu lớn săn tìm cá bơn halibut.

4. Loài cá mập khó ngờ

Con cá mập nhỏ Bồ Đào Nha này là một trong bốn loài tìm thấy ở ngoài khơi Greenland từ năm 2007. Đây là phát hiện đáng nói nhất vì loài cá mập này thường sống về phía nam của vùng biển Tây Nam Đại Tây Dương. Thuyền đánh cá công nghiệp bắt được cá mập Bồ Đào Nha có thể là ngẫu nhiên hoặc vì mục đích lấy dầu gan cá để dùng trong ngành mĩ phẩm.

5. Con mắt băng

Cá đáy biển Địa Trung Hải hay cá đuôi chuột được phát hiện quanh Greenland năm 1998. Phần lớn những loài cá biển sâu được báo cáo trong cuộc nghiên cứu đều ít có giá trị thương mại.

Nhưng theo Peter Moller, một sự tràn vào của cá nước ấm, ăn cạn rõ ràng là vận may đối với ngư nghiệp địa phương. Ít nhất, đối với Greenland biển ấm lên không hẳn là xấu!

6. Cá tì bà có hai que nhử

Loài cá tì bà mới ở Greenland bị mắc lưới ở độ sâu 1.428m vào năm 2009. Con cá tì bà này chưng diện bằng hai phần lồi dài có thể đung đưa để nhử các con cá khác đến gần… đủ để có thể nuốt chửng. Mặc dù có nhiều loài bắt ở độ sâu 1.500m nhưng vùng biển sâu nhất của Greenland vẫn hoàn toàn chưa được nghiên cứu.

7. Ăn tôi nào

Trông kinh dị nhưng loài cá tì bà mới đến Greenland này là món hải sản hấp dẫn, một món hời đối với ngư nghiệp Greenland. Loài này được gọi là cá mập dẹt, nó vẫn hiếm ở Greenland, thường xuất hiện ở vùng nước tương đối cạn. Cá mập dẹt mắc và nổi tiếng vì vậy nó nổi lên như một loài có tiềm năng thương mại từ tất cả những loài được ghi nhận trong nghiên cứu.

8. Kẻ nuốt chửng từ biển thẳm

Chiasmodon harteli thuộc nhóm cá được biết như cá nuốt vì có khả năng nuốt con mồi lớn hơn chính nó. Cá nuốt cũng nằm trong số 38 loài chưa từng thấy ở Greenland.

Hằng trăm thước phía trên nơi cư trú của cá nuốt ở Greenland, người ta đã đánh bắt hơn một thế kỉ. Và theo nhóm nghiên cứu, tại độ sâu cạn hơn này, thật hợp lí để thừa nhận rằng bất cứ loài cá chưa được biết nào được bắt hôm nay đều là những loài mới lạ của vùng.

(Theo_Vietnamnet)

Cá Bò Bông Bi – Balistoides conspicullum

Đây là loài cá phổ biến nhưng cá nhỏ khó thích nghi với môi trường nuôi. Sống ở môi trường nước nông và sâu ở biển. Là một loài ăn tạp,  tính tình hung hăn. Hình mang màu vàng chanh có sọc nhỏ và phần đầu có chấm bi. Loại này rất kho nuôi tại nhà, chỉ thích hợp cho những viện hải dương học.
 

Cây Chọi Lưới

Điểm cơ bản của choi lưới: Bất cứ ai khi nhìn thấy loài cây thuộc xứ sở Madagascar này đều kinh ngạc vì vẻ đẹp của nó. Choi lưới luôn tạo điểm nhấn khi bạn trồng chúng vào hồ. Bạn sẽ cảm thấy chán nản khi thấy 1 cây choi còi cọc hay 1 cái củ choi trần trụi. Rất khó khăn và tốn kém khi vận chuyển 1 cây choi lưới hoàn chỉnh, vì vậy mọi người thường tin tưởng khi bắt đầu trồng bằng củ.

Tên gọi: Trong vài thập kỷ gần đây, tên khoa học của loài này được đổi từ A. fenestralis sang A. madagascariensis. Bạn thường thấy cả 2 tên này ở mọi nơi. Vậy không hay lắm, Fenestra tiếng latin có nghĩa là cửa sổ – từ này hàm ý miêu tả chiếc lá đặc trưng. Tuy nhiên hầu hết cây họ choi đều xuất xứ từ madagascar, để tránh nhầm lẫn, ta cứ gọi là choi lưới.

Bệnh xệ mắt ở cá rồng

Hiện tượng xệ mắt ở cá rồng là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi. Hiện tại, có người cho rằng đó là vì di truyền, trong khi người khác cho rằng đó là vì chế độ dinh dưỡng nhưng có người lại thấy chính môi trường đã gây nên bệnh này.

alt

cá rồng bị coi là xệ mắt một khi tròng mắt của nó hướng xuống một cách thường trực như thể nó luôn nhìn xuống. Điều này thường chỉ xảy ra với một con mắt, con còn lại bình thường. Mức độ xệ mắt thay đổi từ hơi liếc xuống cho đến rất nặng – tức hầu hết phần trên của con ngươi lồi hẳn ra ngoài.

Cũng có trường hợp cả hai mắt bị xệ. Những trường hợp như thế này, mức độ xệ thường rất nhẹ và được gọi là “mắt xếch”. Một cá rồng bị coi là “mắt xếch” khi cả hai tròng mắt hơi hướng xuống phía dưới. Có nhiều tranh cãi về việc cá rồng xệ mắt nhẹ ở cả hai mắt nên được gọi là xệ mắt hay “mắt xếch”. Vậy “mắt xếch”, tức bệnh xệ mắt nhẹ ở cả hai mắt một cách ngẫu nhiên, có làm mắt cá rồng trông cân đối? Có nên gọi đấy là “mắt xếch” thay vì xệ mắt? Đó là những điều mà độc giả nên cân nhắc và tự đưa ra kết luận.

Hiện tượng xệ mắt ở cá rồng là vấn đề gây ra nhiều tranh cãi. Hiện tại, có người cho rằng đó là vì di truyền, trong khi người khác cho rằng đó là vì chế độ dinh dưỡng nhưng có người lại thấy chính môi trường đã gây nên bệnh này.

Người chơi cá rồng coi bệnh xệ mắt như là một trong những “khiếm khuyết” mà cá rồng có thể mắc phải. Những khiếm khuyết khác về ngoại hình đối với cá rồng, dù phổ biến hay không, bao gồm môi trề, tật cắn đuôi và quăn râu. Những khiếm khuyết này ảnh hưởng đến vẻ đẹp tổng quát của một cá thể và chắc chắn làm giảm giá trị của nó.

Như người ta thường nói “đẹp xấu tùy vào mắt của mỗi người”. Việc những “khiếm khuyết” này ảnh hưởng đến vẻ đẹp và hình dáng tổng quát của một cá thể chắc chắn thuộc về một chủ đề khác mà chúng ta sẽ không bàn đến ở đây. Chỉ biết rằng, theo các tiêu chuẩn triển lãm, sự hiện diện của những “khiếm khuyết” này được xem xét đến trong quá trình chấm điểm. Tuy nhiên, mức độ khiếm khuyết đủ để gây khó chịu đối với người chơi cá sẽ phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của mỗi người.

Nguyên nhân và cách chữa trị bệnh xệ mắt

1. Dinh dưỡng:

Nghe nói rằng thực phẩm giàu chất béo khiến chất béo tích tụ bên dưới tròng mắt. Có lẽ điều này được phát hiện thông qua việc giải phẫu những cá thể mắc bệnh xệ mắt.

Một yếu tố dinh dưỡng khác cũng cần phải lưu ý là các loại thức ăn cứng. Tôi đoán rằng giả thuyết này hình thành từ việc cá rồng bắt đầu “nhìn xuống” mỗi khi nhai là hậu quả của việc “phùng mang”. Nhưng tròng mắt cá rồng thực sự nhìn xuống hay chỉ trông có vẻ như đang nhìn xuống?

2. Di truyền:

Di truyền cũng có thể là một nguyên nhân, nhưng rất khó để có thể chứng minh điều đó là đúng hay sai. Dù sao đi nữa, bất kỳ giả thuyết khoa học nào không thể chứng minh là sai thì đều có phần đúng cho đến khi được chứng minh ngược lại.

Một nguyên nhân nữa về di truyền có thể vì mức độ tò mò của mỗi cá thể. Giống như con người, mỗi cá thể đều có cá tính riêng. Có lẽ, những con cá rồng càng tò mò thì càng dễ bị mắc bệnh xệ mắt.

3. Môi trường:

Những yếu tố về môi trường cũng góp phần gây ra bệnh xệ mắt ở cá rồng. Một trong những yếu tố như vậy đó là sự phản xạ từ đáy hồ và chiếu sáng mạnh từ nắp hồ. Khi để đèn vào ban đêm, chúng ta có thể quan sát thấy mắt cá rồng xoay xuống dưới khoảng 30 độ. Có phải ánh đèn từ trên nắp gây ra triệu chứng này? Có lẽ vậy. Lại nữa, nếu bạn bật đèn phòng bất thình lình khi phòng đang tối, bạn cũng phải nheo mắt cho đến khi quen với ánh sáng xung quanh. Vậy bạn có thể mong đợi gì hơn ở cá một khi chúng không hề có mí mắt?

Làm sao mà sự phản xạ từ đáy hồ lại liên quan đến chứng bệnh này? Nó có thể là nguyên nhân bởi vì trong môi trường tự nhiên rất ít có sự phản xạ. Sự phản xạ thường xuyên hiện hữu trong hồ kiếng thông qua các bề mặt trơn láng. Bởi vì nó là yếu tố chỉ xuất hiện trong hồ kiếng, nên nó có thể là nguyên nhân gây nên bệnh xệ mắt. Những bằng chứng gián tiếp hỗ trợ cho giả thuyết này đó là bệnh xệ mắt có thể được “chữa trị” bằng cách thả cá rồng vào hồ làm bằng sợi thủy tinh. Tuy nhiên, hồ sợi thủy tinh cũng được sử dụng để ngăn cá rồng nhìn ra ngoài. Vì hồ kiếng được đặt ở khoảng cách nhất định so với sàn, nên vô tình nó khiến cá rồng hay nhìn xuống. Một cách khác để loại bỏ sự phản xạ từ đáy hồ là trải sỏi hay trồng cây thủy sinh. cá rồng thường được nuôi trong hồ trống để dễ chăm sóc và do đó, chỉ cần trải một lớp sỏi mỏng là được.

Một nguyên nhân khác gây nên bệnh xệ mắt thường được nhắc tới là thói quen nhìn xuống của cá rồng. cá rồng, loài cá rất thông minh, cũng hết sức tò mò. Khi cá được nuôi trong hồ cao thì chúng có xu hướng nhìn xuống bên dưới để quan sát những vật chuyển động bên ngoài hồ. Đó có thể là trẻ em hay vật nuôi như chó, mèo. Như vậy, để hạn chế “thói quen” nhìn xuống, người ta dự định thả những con cá rồng xệ mắt xuống ao, hồ sợi thuỷ tinh hay che tất cả các mặt của hồ kiếng lại, chỉ để hở phần nắp hồ. Những thủ thuật như thế này đều ít nhiều thành công.

Một giải pháp nữa thường được nhắc đến đó là thả 1-2 trái bóng bàn vào hồ. Điều này sẽ hấp dẫn sự chú ý của cá rồng và khiến nó nhìn lên trên. Tuy nhiên, tôi thấy rằng cách này chỉ gây ra sự chú ý của cá rồng trong vài ngày đầu. Một khi cá rồng đã quen với thứ vật thể nổi lềnh bềnh chán ngắt này, nó sẽ không thèm quan tâm đến nữa. Một cách khác là bố trí đèn nhấp nháy ngay trên nóc hồ. Có lẽ cách này tốt hơn vì ít ra thì ánh sáng cũng còn chuyển động.

Loại đèn nhấp nháy có lẽ giống như đèn gắn trên xe đạp hay đèn trang trí trong mùa Giáng Sinh. Tôi thích đèn Giáng Sinh vì nó không đơn điệu và gây được nhiều chú ý. cá rồng có vẻ thích thú với các loại đèn này hơn so với những quả bóng bàn. Ngày nay, những loại đèn như vậy thậm chí còn có thể phát ra âm thanh và thay đổi kiểu nhấp nháy.

Một nguyên nhân nữa có thể gây nên bệnh xệ mắt ở cá rồng đó là khi bạn thả những loài sống ở mặt đáy vào hồ cá rồng. Tôi thấy thả cá khác vào chung hồ cũng tốt thôi, vì chúng làm cho hồ thêm sinh động. Nhưng chúng lại ảnh hưởng đến cá rồng theo cách tương tự như trẻ em và thú nuôi.

Kết luận

Để kết luận, tôi cho rằng câu trả lời chính xác nhất là cân nhắc đến tất cả mọi yếu tố và quyết định thiết kế hồ và phương pháp nuôi cá rồng một cách phù hợp. Điều này bao gồm vị trí đặt hồ, môi trường cũng như số lượng mặt kiếng, chiều cao hồ, môi trường xung quanh, cách thức nuôi dưỡng, v.v…

Nếu bạn cố gắng chữa bệnh xệ mắt, thì hãy thực hiện càng sớm càng tốt. Nghe nói cơ hội thành công sẽ cao hơn khi bệnh xệ mắt còn nhẹ. Một khi bệnh quá nặng, việc chữa trị sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể. Tuy nhiên, lưu ý rằng có trường hợp bệnh xệ mắt tái xuất hiện sau khi đã được “chữa trị”. Có lẽ, đó là vì môi trường chưa được điều chỉnh hay vì chế độ nuôi dưỡng. Nếu nguyên nhân xệ mắt là do di truyền, thì người nuôi cá hầu như không thể phòng ngừa được và có lẽ nên chữa bệnh một khi nó xuất hiện, đành phải làm như vậy thôi.

Những phương pháp này có thể có tác dụng với người này nhưng lại khiến người khác thất vọng. Dù sao đi nữa, nên nhớ rằng quá trình chữa trị phải mất từ nhiều tuần đến nhiều tháng. Do đó, kiên nhẫn là đức tính rất quan trọng trong việc chữa trị bệnh xệ mắt.

Tóm lại, hãy sống và để cho sự sống được tiếp diễn. Hãy vui thú với việc nuôi những con cá rồng tuyệt vời và đừng bị ảnh hưởng quá nhiều bởi những khiếm khuyết như thế này. Sau cùng, có nhiều thứ để bàn về cá rồng hơn là chỉ về con mắt của chúng.

Theo_Sinh Vật Cảnh

Các bệnh thường gặp ở cá biển

Quan sát sự di chuyển hay cách ăn uống của chúng sẽ giúp chúng ta phát hiện các dấu hiệu bất thường. Từ đó nếu thấy xuất hiện bệnh, lập tức có phương pháp cứu chữa kịp thời. Trước tiên, ta cần quan sát cách ăn uống của cá: Khi cho ăn, ta đếm số lượng cá, nếu con nào không chịu tập trung ăn, rời đàn đi riêng lẻ, lập tức theo dõi chặt chẽ hơn.

alt

Thứ hai, ta cần quan sát phân của cá: Màu sắc của phân cũng phản ánh phần nào tình trạng sức khoẻ của của cá. Nếu phân bạc màu và lỏng lập tức chú ý đề phòng cá bị đường ruột. Khi nuôi, ta cũng cần quan sát nếu thấy có cá đánh nhau là phải tổ chức cách ly ngay.

1. Bệnh đốm trắng

Triệu chứng:
Cá ít di chuyển, đỡ đẫn, thường cọ thân mình vào cạnh bể. Trên mình nổi đầy những đốm trắng. Đây là bệnh lây nhiễm khá nguy hiểm.

Nguyên nhân:
Do những con trùng roi hình ô van gây bệnh

Cách chữa:

* Thứ nhất là nâng nhiệt độ của nước lên 30 độ C, các ký sinh trùng gặp nhiệt độ cao sẽ bị tiêu diệt
* Thứ hai đặt những viên gạch mới vào trong nước tiểu người, ngâm 24h, sau đó phơi khô rồi bỏ vào bể cá. Sau 10 tiếng, bệnh cá sẽ thuyên giảm trông thấy.
* Thứ ba là ngâm cá bệnh trong nước ngọt với tỷ lệ 9 nước ngọt và 1 nước mặn, ngâm từ 1 đến 2 phút. Trong thời gian này, ta cần theo dõi khả năng thích ứng của cá. Nếu thấy cá thở gấp cần khẩn trương vớt cá về bể ngay.
* Cuối cùng là đổ 10 kg nước biển vào bể (400lít), thêm 0,05g sunphát, tăng cường dưỡng khí, ngâm cá từ 5 đến 10 phút. rồi lại thay nước ngay. Sau 24h sẽ thấy bệnh giảm rõ rệt.

2. Bệnh rách vây, rách da

Triệu chứng:
Các vẩy cá không lành lặn, những lá vẩy trên cơ thể cá rơi rụng, da cá thối rữa. Nguyên nhân là do chúng đánh nhau hoặc không thích ứng môi trường nước, dẫn đến tổn thương ngoài da.

Cách chữa trị:
Cứ 10 lít nước ta bỏ vào 4 viên furazolidone, ngâm cá khoảng 10, 15 phút hoặc bỏ 0,2g thuốc tím ngam 10 phút, cá sẽ không bị nhiễm trùng, vết thương kín miệng và bệnh sẽ dần khỏi.

3. Bệnh rách mang

Triệu chứng:
Mang của cá bị mất máu, tím tái và thối rữa. Nếu bệnh nặng thì những tua mang lở loét thành lỗ, lan sang quai hàm, việc hô hấp của cá lúc này rất khó khăn.

Cách chữa:

* Cách thứ nhất, cứ 10 lít nước mặn, ta bỏ vào 0,2 gam furacillin ngâm từ 5 đến 10 phút hoặc ngâm cá trong nước ngọt (9 phần nước ngọt và 1 phần nước mặn)
* Cách thứ hai, ta cũng có thể ngâm cá trong nước có bỏ sunphát đồng như ở bệnh đốm trắng, sau 24 h bệnh của cá sẽ thuyên giảm đáng kể.

Theo_sinhvatcanh.org

Cá Thù Lù

Loài cá có cái tên quái dị này trở nên nổi tiếng sau khi xuất hiện trong bộ phim hoạt hình Finding Nemo. Chúng đẹp và có dáng bơi tao nhã nhưng cực kỳ khó chăm sóc, dễ mắc bệnh và bị tổn thương bởi những điều rất nhỏ nhặt. Giá của cá thù lù cũng đắt và hãy suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định nuôi loài cá này.

 

Khi đầu cá la hán lép xẹp ..

Rất nhiều người đã đổ tiền của, thậm chí vay mượn nợ để kinh doanh cá la hán, con cá cóá “dòng chữ Tàu” bên thân và khối u ngộ nghĩnh trên đầu, được xem như biểu tượng của sự may mắn và thịnh vượng. Kết quả, rất nhiều người bị lỗ vốn, trắng tay vì cá không chịu “lên gù”.
 calahan4

Khổ vì “cái đầu xẹp lép”!

Anh Tống Thành Đức, một giáo viên về hưu ở TP.HCM, với nghề dạy đàn và buôn bán nhỏ, gia đình có thu nhập ổn định. Cuộc sống gia đình anh có lẽ chẳng có gì xáo trộn nếu niềm đam mê nuôi cá cảnh không đột nhiên trỗi dậy. Nghe đồn nuôi cá la hán có thể làm giàu, anh Đức dốc túi xây hồ nuôi cá, gom góp được gần 40 triệu đồng để mua cá về nuôi. Anh tìm đến mua cá của cơ sở Phước Bình Đăng (Q.8), một lò cá được quảng cáo là nơi cung cấp uy tín và tạo được thương hiệu cá la hán Nữ hoàng kim cương danh tiếng. Sau 3 tháng chăm chút, chi phí đầu tư đã tăng lên đến 50 triệu đồng nhưng kết quả thật thảm hại. 300 con cá anh nuôi chỉ có 6 con “lên gù”, nghĩa là tạo được cục u phía trước đầu. Toàn bộ đàn cá còn lại có đầu… xẹp lép, mà như vậy thì không thể nào gọi là “la hán”, và dĩ nhiên không thể nào bán được với giá hàng chục triệu như mơ ước, thậm chí 6 con cá “lên đầu” của anh Đức cũng chỉ được người khác hỏi mua với giá 200.000 đồng/con. Số vốn ban đầu bỏ ra coi như đi đứt.

Cá la hán dòng King Kamfa được mua với giá 12.000 USD và cá la hán dòng Kamalau
Anh Kiều Văn Thanh, một sĩ quan quân đội về hưu cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Nhiều lần bị thất bại do mua cá giống trôi nổi ngoài thị trường, anh Thanh tìm đến cơ sở Phước Bình Đăng để mua cá có bảo đảm nguồn gốc cho yên tâm, nhưng trong số 60 con anh mua về với giá 3,5 triệu đồng, chỉ có duy nhất 1 con “lên gù”. Bức xúc, anh tìm đến chủ cung cấp và đòi bồi thường, nhưng chỉ nhận được 30% số tiền mua cá bột gọi là “hỗ trợ rủi ro”. Đau khổ hơn là trường hợp anh Nguyễn Thanh Vân ở Bình Dương, nhận lời làm đại lý nuôi cá cho cơ sở Phước Bình Đăng. Gọi là “đại lý”, nhưng anh Vân phải bỏ toàn bộ tiền nhà ra để xây hồ, lắp đặt trang thiết bị, mua cá bột về nuôi. Tổng cộng chi phí hết hơn 120 triệu đồng và sau 3 tháng, toàn bộ đàn cá không có con nào “lên đầu”, số vốn bỏ ra coi như mất trắng.

Lỗi tại ai?

Quá bức xúc trước thiệt hại to lớn, hàng chục hội viên Chi hội cá La hán TP.HCM đã đồng ký tên vào đơn khiếu nại các nhân vật chủ chốt trong Ban chấp hành chi hội bán cá la hán bột cho hội viên với giá “cắt cổ” nhưng hiệu quả chẳng thấy đâu. Theo đơn trình bày của gần 15 người nuôi cá thất bại, họ đã mua cá bột với giá từ 50.000 – 300.000 đồng/con, cao hơn gấp nhiều lần ngoài thị trường. Qua nhiều lần họp giải quyết, chỉ có lò cá Phước Bình Đăng là chấp nhận hoàn trả 30% tiền mua cá.

Trao đổi với chúng tôi, ông Phan Văn Thanh – Chủ tịch Chi hội cá la hán TP.HCM nói: “Chúng tôi đã nói từ đầu là nuôi cá la hán thành công có xác suất, muốn hiệu quả cao thì phải có kinh nghiệm, kỹ thuật, và phải chịu nhiều lần thất bại. Những người đi khiếu nại hay kiện ra tòa chỉ là chuyện khôi hài, vì cá chúng tôi bán ra rất nhiều, ai thích thì mua, mà mua rồi đem trả chúng tôi cũng không biết được phải cá của mình hay không. Họ nuôi thành công đem bán có lợi nhuận thì im lặng, còn nuôi lỗ thì làm um sùm lên. Với tư cách là chủ tịch chi hội, chúng tôi chỉ hỗ trợ bằng cách hướng dẫn thêm kinh nghiệm, cho họ vài con cá miễn phí để học hỏi thêm kỹ thuật nuôi”.

“Người nuôi khi có quyết định nuôi cá La hán bột cũng nên chuẩn bị tâm lý là có sự hên xui trong đó. Ngay khi khách hàng hỏi tôi, mua cá bột về nuôi có “lên gù” không? Tôi trả lời thẳng thắn là không có gì đảm bảo cả. Vì nếu biết con cá đó chắc chắn “lên gù” thì không chỉ tôi mà các chủ cửa hàng cũng không bán nó với giá cá bột rất rẻ mà chỉ cần đợi một vài tháng sau khi cá “bung gù” thì tôi sẽ hốt bạc. Trong kinh doanh cũng có những rủi ro, không chỉ riêng ngành cá cảnh, mà những ngành nghề khác cũng vậy”. (Ông Hà Sỹ Liêm, chủ chuỗi cửa hàng Thập Bát La Hán – TP.HCM)
Ông Huỳnh Văn Phước, chủ lò cá Phước Bình Đăng thì có cách giải quyết mềm mỏng hơn. Ông Phước cho biết: “Chúng tôi chưa bao giờ vào chi hội để tìm cách quảng cáo bán cá. Nhưng có nhiều người nóng lòng muốn tìm lợi nhuận nhanh mà không tìm hiểu kỹ nên nuôi cá gặp thất bại. Khi có nhiều người khiếu nại về cá la hán nuôi không thành công, tôi đã hỗ trợ 30% tiền mua cá ban đầu của khách hàng, đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý”. Còn trước những cáo buộc về lời quảng cáo cá la hán của Phước Bình Đăng cho tỷ lệ “lên gù” từ 50 – 60%, ông Huỳnh Văn Phước khẳng định không hứa hẹn gì với khách hàng cả.

Chị Võ Thị Trúc Mai, đại diện những người khiếu nại nêu ý kiến: “Tiền chúng tôi bỏ ra xem như mất rồi, nhưng chúng tôi muốn làm rõ chuyện này để hàng trăm, hàng ngàn người đang có ý định nuôi cá la hán phải cẩn thận và tìm hiểu kỹ khi bắt đầu nuôi”. Về phía Chi hội cá la hán TP.HCM, nhiều hội viên cũng nêu ý kiến phải cải tổ lại hoạt động, các thành viên Ban chấp hành hiện nay chỉ quan tâm nhiều đến việc giao dịch, mua bán cá cảnh mà bỏ quên các tiêu chí hoạt động khác.

Quang Thuần

Betta hai đuôi (Đuôi kép – doubletail) là gì?

betta37

Cá đuôi kép là một đối tượng được yêu thích từ khi chúng bắt đầu xuất hiện trong thế giới cá betta. Cá đuôi kép, như tên của chúng, có hai thuỳ đuôi phân lập. Chúng không phân ra hai bên như cá vàng mà theo kiểu trên – dưới. Hơn nữa, vây lưng của chúng dài hơn, thân cũng ngắn và mập hơn cá đuôi đơn bình thường vì điều này giúp chúng nâng đỡ bộ vây đặc biệt được tốt hơn.

Đặc điểm đuôi đơn được quyết định bởi một gen lặn, khi hai alen kết hợp với nhau sẽ tạo ra cá betta có hai thuỳ đuôi và vây lưng cực lớn. Cũng có những yếu tố khác ảnh hưởng đến hình dạng của đuôi kép bởi vì mức độ phân lập ở đuôi không hoàn toàn giống nhau. Gen này cũng tạo ra những đặc điểm bề ngoài rất khác nhau, có những con thuỳ đuôi rất đều nhưng cũng có những con mà tỷ lệ hai thuỳ rất khác biệt.

betta38

Tôi không thể nói chính xác khi nào thì dạng đuôi kép đột biến xuất hiện và ai là người đầu tiên phát hiện ra chúng. Có người nói con đuôi kép đầu tiên xuất hiện trong dòng cá của Warren Young (nhà lai tạo thường được biết dưới tên “Libby Betta”), trong khi những người khác lại cho rằng cá đuôi kép xuất hiện trong số cá nhập khẩu từ Đông Nam Á và được những người yêu thích cá betta nuôi dưỡng.

betta39

Được biết, gen đuôi kép đột biến gây ra một hiệu ứng gọi là “vây bụng hoá” (ventralization), tức là vây lưng có hình dạng khác thường và trông giống như vây hậu môn và thuỳ dưới của đuôi. Nói cách khác, gen đột biến hoán đổi phần vây trên bằng phần vây dưới nhưng lại không tác động đến vây hậu môn và thuỳ dưới. Người ta chứng minh được rằng tia cực tím kích thích sự “vây bụng hoá” ở bào thai cá betta, nhưng điều đó lại hoàn toàn khác với sự hình thành một cách tự nhiên ở cá betta đuôi kép.

Lai tạo cá đuôi kép là công việc khó khăn bởi vì sự đột biến có xu hướng làm vây bị xoắn và biến dạng. Lai đuôi kép với nhau sẽ tạo ra 100% đuôi kép nhưng chúng cũng tạo ra rất nhiều cá con bị xoắn đuôi và những lỗi khác. Phương pháp thông thường là lai cá đuôi kép với cá đuôi đơn để hạn chế lỗi xoắn đuôi ở bầy cá con và cũng để cải thiện vây lưng của cá đuôi đơn. Thế hệ lai đầu tiên sẽ tạo ra toàn cá đuôi đơn, hầu hết chúng là dị hợp tử của đuôi kép. Ký hiệu gen cho cá đuôi đơn có mang gen đuôi kép là ST/dt. Lai ST/dt với nhau sẽ tạo ra khoảng 25% cá đuôi kép. Lai đuôi kép với ST/dt sẽ tạo ra tỷ lệ đuôi kép cao hơn (gần 50%).

Ngày nay, các nhà lai tạo thường sử dụng cá đuôi kép để cải thiện độ lớn của vây lưng ở cá đuôi đơn. Điều này có hiệu lực ở ngay thế hệ đầu tiên F1 nhưng lai tuyển chọn lâu dài có thể cải thiện vây lưng ở cá đuôi đơn gần bằng với cá đuôi kép!

betta40

Một dòng cá mới và cần thiết đó là halfmoon đuôi kép với các thuỳ đuôi rộng xếp chồng lên nhau và có thể xoè đủ 180 độ hay nhiều hơn. Điều này, cùng với tỷ lệ cân đối của vây lưng và vây hậu môn chắc chắn sẽ tạo ra con cá betta cực kỳ ấn tượng! (hình trên cùng)

Nguồn betta.ketviet

Thiết kế hồ nuôi cá dĩa phù hợp

Kích thước hồ
Một sai lầm mà nhiều người bắt đâu nuôi CD hay mắc phải là sử dụng hồ quá nhỏ. Hầu hết CD nhỏ được nuôi khi chúng bằng ¼ hay ½ tờ dollar. Đơn giản là họ nuôi 6-8 con trong hồ 20 gallon (76l). Điều này hoàn toàn sai lầm. Các nhà gây giống đề nghị 40 gallon(152 l) là ít nhất cho 1 cặp. Chúng tôi cũng áp dụng luật này cho hồ cảnh. Chúng tôi phải nuôi sáu CD trưởng thành trong hồ 100 gallon( 380l), và chừng này dường như vừa ổn. Quan trọng là cân nhắc cả kích cỡ và mức nước – bể cao ( 24 inches = 60,96cm) phổ biến hơn bể thấp, dài vì CD tròn. Một con cá dĩa 8 inches cao hơn 1 con cá 8 inches khác nhiều.

Bạn nên bắt đầu với một số cá chưa trưởng thành lớn hơn lượng bạn định nuôi và loại ra những con yếu và xấu nếu cần thiết. Chúng tôi thấy rằng trong một loạt cá hương bất kì, bao giờ cũng có những cá thể nổi bật và những cá thể quá hiền lành. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, những cá thể hiền lành sẽ chết đi, bởi chúng không háu ăn và bị tấn công bởi những con khác. Nếu tiệm cá bạn mua cho đổi, bạn có thể trả lại vài CD nhỏ (chúng có thể lớn nhanh trong hồ khác nếu chúng trở thành cá thể nổi trội.

Làm mềm nước
Chúng tôi may mắn là có nguồn nước rất mềm. Nước của chúng tôi đén từ hồ chúa trên núi và chủ yếu là do tuyết tan. Nước có độ cứng trung bình 0.5-1 GH. Độ cứng này phù hợp cho hồ nuôi cá dĩa trơn nhưng quá thấp cho hồ rong phát triển, chúng tôi thêm CaCO3 để tăng Gh đến 2. Trong hồ CD 100gallon, chúng tôi thêm khoảng 4 muỗng trà (8g) CaCO3.

Lưu ý: để tham khảo, 2 muỗng( 4g) CaCO3 vào 50 gallon nước sẽ tăng cả GH và KH xấp xỉ 1 bậc. Một muỗng( 6g) sodium bicarbonate vào 50 gallon nước sẽ tăng KH lên 1 bậc và không tăng GH. Hãy luôn dung bộ thử để xem bạn có thêm đủ chất làm cứng chưa, rất khó để có mức đo chính xác về chất làm cứng khô nếu không có dụng cụ đo nhạy. Với hầu hết dụng cụ đo dung cho bể cá, 1 độ cứng( dGH hay dKH) tương đương 17,8g/l CaCO3 – tiêu chuẩn đo lường.

cadia2

Hạ pH
Ngay cả khi CD thích pH thấp, chúng tôi giữ pH hồ trong khoảng 6.9. Chúng tôi điều chỉnh KH và lượng CO2 để đạt được mức pH mong muốn. Trong hồ trơn, nhiều hợp chất hóa học ngoài thị trường có thể được sử dụng để điều chỉnh pH. Tuy vậy, những chất nào thường chứa photphate và gây ra tảo trong hồ có lượng sáng và dinh dưỡng cao.

Để điều chỉnh pH, chúng tôi dùng sodium bicarbonate (NaHCO3, sô đa thông thường) để tăng KH của nguồn nước từ 2 lên 4 độ ( tương đương chừng 70 mg/l CaCO3). Lưu ý là CaCO3 thêm vào trước để tăng Gh cũng tăng KH; luôn kiểm tra Kh sauu khi tăng GH để xem bạn cần thêm bao nhiêu sô đa. Trong trường hợp chúng tôi, 2 muỗng( 12g) sô đa được thêm vào để có 4dKH.

Lưu ý: hầu hết dụng cụ đo KH thật sự đo tính kiềm, nếu carbonate là chất đệm duy nhất trong nước, toàn bộ tính kiềm tương đương độ cứng của carbonate. Nếu có chất đệm khác như gốc phosphate, bạn sẽ không đọc được Kh thật sự từ bộ thử. Hãy xem xét cẩn thận.
Nhân tố thêm vào ảnh hưởng pH là lượng CO2. Khi KH tăng, pH cũng tăng theo. Để làm pH trở lại tình trạng mong đợi và cung cấp đủ CO2 cho cây phát triển tốt, chúng tôi tiêm thêm CO2 để được lượng 15 mg/l . Hàm lượng CO2 này và 4 dKH sẽ tạo ra pH 6.9. Có nhiều phiên bản bảng KH/CO2/pH trên Internet nên bạn có thể quyết định KH và CO2 hợp với yêu cầu của mình. Chúng tôi khuyên bạn không nên tăng hàm lượng CO2 vượt quá 15-20g/l đối với CD.

Chúng tôi thích xài bộ điều chỉnh pH có thể đo pH trong bể và tắt mở cuộn cảm để điều chỉnh dòng CO2. Nếu thận trọng, bạn có thể làm tay. Sau khi có độ KH thích hợp, điều chỉnh dòng CÒ đến khi bạn có độ pH mong muốn.

Tăng nhiệt độ
NNTS thấy CD chống chọi bệnh tật tốt hơn ở nhiệt độ cao, và điều chỉnh nhiệt độ tầm 27-30C hoặc cao hơn. Tảo sẽ là vấn đề khó giải quyết ở nhiệt độ cao, nên chúng tôi đầu chỉnh nhiệt độ khoảng 27,78C thôi.
Mặt tích cực của việc tăng nhiệt độ là dây tóc sưởi không là vấn đề như ở nhiệt độ thấp. NNTS không ở trong phòng điều hòa thấy nhiệt độ bể vào mùa hè khoàng 80F và trái với việc sử dụng dây tóc sưởi – nhiệt độ tăng thêm không cần thiết và dây sưởi chẳng làm gì cả.

Cung cấp Oxy
Do nhiệt độ cao, lượng oxy trong bể ít hơn. Tại mực nước biển, oxy hòa tan ở 75F là 8,4 mg/l, ở 86F chỉ còn 7,6 mg/l. Sự giảm sút này còn nhiều hơn nếu bạn ở vị trí cao hơn – sự kết hợp của độ cao (chúng tôi ở độ cao 5000 feet) và nước ấm giảm lượng oxy đáng kể. Bể rong rất hữu ích cho CD vì rong có thể bão hòa nước cả ngày, đẩy lượng oxy bão hòa lên 120% hoặc cao hơn. Chúng tôi thường đo được lượng oxy 8,3 mg/l vào chiều tối – tương đương với nước nguội ở mực nước biển.

Để an toàn hơn, chúng tôi sử dụng máy lọc chậm để đảm bảo lượng oxy trong nước ngay cả chiều tối khi tắt “nắng” và cây ngừng quang hợp. Lưu ý cho lượng oxy vào khoảng 90% vào buổi sáng trước khi “nắng” lên lại. lượng oxi này có thể đạt được bằng cách bật oxi ban đâm, nhưng gây mất rất nhiều CO2.

Nguồn chimcacanh

Làm thế nào để cá cảnh lớn nhanh?

cadia24
1. Thay nước
Những người nuôi cá dĩa chuyên nghiệp thường nuôi mật độ cao và thay nước với tần suất 2-3 lần/ngày, mỗi lần từ 50-100% nước hồ. Nhà lai tạo cá dĩa tiên phong Jack Wattley cho rằng cá dĩa tiết ra một loại hormon hạn chế tốc độ tăng trưởng của đồng loại. Nồng độ nitrate cao cũng làm cá dĩa tăng trưởng chậm. Chế độ thay nước này loại bỏ những chất trên một cách nhanh chóng để cá lớn nhanh hơn. Lưu ý rằng nước sạch trước khi thay cần được xử lý thích hợp (chẳng hạn clor, pH, gH; xử lý nước lại là một đề tài lớn khác).

2. Tách cá nhỏ nuôi riêng
Những con cá nhỏ thường không tranh ăn nổi với cá lớn. Chúng ta nên tách những con cá nhỏ trong bầy ra nuôi riêng để chúng phát triển tốt hơn.

3. Sục khí
Trong một thí nghiệm về tác dụng của sục khí với cá dĩa. Bầy cá được tách nuôi trong hai hồ, một hồ dùng cục sủi và hồ kia dùng bộ lọc khí. Chế độ thức ăn là như nhau. Sau 6 tháng, cá bên hồ dùng cục sủi lớn gấp đôi hồ bên kia. Như vậy, sự trao đổi khí càng mạnh thì cá càng lớn mau.

Lưu ý rằng việc trao đổi khí diễn ra chủ yếu ở bề mặt hồ nên chúng ta cần bố trí cục sủi ở một độ sâu vừa phải sao cho xáo động trên mặt nước là mạnh nhất.

4. Tần suất cho ăn
Nhiều người nghĩ rằng nhồi cho cá ăn càng nhiều thì chúng càng lớn mau, điều này không đúng. Cá chỉ có thể hấp thu một lượng dinh dưỡng nhất định, phần còn lại chúng sẽ thải ra ngoài cơ thể. Do đó, cho cá ăn thật nhiều một lần không có tác dụng. Hãy cho cá ăn một lượng vừa phải nhưng trải ra làm nhiều lần trong ngày. Thông thường, người ta cho cá ăn 3-4 lần mỗi ngày: sáng, trưa, chiều và tối. Có người siêng hơn còn bật đèn cho cá ăn thêm bữa đêm!

5. Thành phần thức ăn
Chúng ta thường nghĩ rằng cá dĩa là loài ăn thịt thuần túy. Điều này không hoàn toàn đúng vì những nghiên cứu gần đây về thành phần thức ăn của cá dĩa hoang dã cho thấy chúng ăn rất nhiều thực vật (40% – 60%). Bởi vậy, người ta đã thử bổ sung rau vào thức ăn của cá dĩa và thấy tác dụng tốt. Phát hiện này ít ra cũng giúp giảm chi phí thức ăn.

Công thức: tim bò xay (loại bỏ sạch gân, mỡ), rau luộc xay (cải bó xôi, củ cải, cải bông, cà rốt), phụ gia (can-xi, vitamin, tỏi, tảo spirulina) và chất kết dính. Trong khi trùn chỉ giúp cá lớn mau thì tim bò giúp cá dày mình. Có thể kết hợp thức ăn với tần suất cho ăn và thay nước, chẳng hạn sáng cho ăn trùn chỉ, ăn xong thay nước 50%, trưa cho ăn tim bò, ăn xong thay nước 100%, tối cho ăn trùn chỉ hoặc thức ăn viên, ăn xong thay nước 50%.

6. Tăng độ cứng
Theo một số thông tin trên mạng thì cá dĩa phát triển tốt (nhanh và to hơn) trong điều kiện nước cứng. Độ cứng của nước nuôi cá dĩa nên từ 3 đến 15 dH (từ mềm đến hơi cứng), cá dĩa vẫn có thể thích nghi với nước cứng hơn nhưng chúng sẽ bị stress. Cần tăng độ cứng lên từ từ để cá dĩa quen dần. Chất tăng độ cứng (không ảnh hưởng đến pH) mà mọi người thường dùng là clorua can-xi CaCl2.

Thông số nuôi cá dĩa mà trại Stendker (Đức) khuyên dùng:
Độ cứng gH 15
Độ kiềm kH 8
Độ pH 7
Độ dẫn (conductivity) 800 μSiemens
Nhiệt độ 30 o C

Nguồn diendancacanh